Tài liệu Giáo trình Kinh tế phát triển (Phần 2): GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 89
Chương 5
NÔNG NGHIỆP VỚI TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
5.1. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất ra đời đầu tiên, gắn với sự tồn tại và phát
triển của xã hội loài người.
Sản xuất nông nghiệp theo nghĩa hẹp bao gồm hai ngành chính là trồng
trọt và chăn nuôi, còn theo nghĩa rộng, hoạt động sản xuất nông nghiệp ngoài
trồng trọt và chăn nuôi còn bao gồm cả các ngành lâm - ngư nghiệp. Mặt khác,
khi nghiên cứu giải quyết các vấn đề có liên quan đến sản xuất nông nghiệp phải
đặt nông nghiệp trong mối quan hệ mật thiết với kinh tế nông thôn và vấn đề
nông dân. Có thể nói nông nghiệp, nông thôn và nông dân là 3 vấn đề không thể
tách rời trong quá trình phát triển nông nghiệp.
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất có những đặc điểm riêng biệt,
"tuyệt đối không thể bỏ qua" được. Những đặc điểm đó có ảnh hưởng rất lớn
đến công tác tổ chức quản lý cũng như việc đề ra các ...
100 trang |
Chia sẻ: honghanh66 | Lượt xem: 803 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem trước 20 trang mẫu tài liệu Giáo trình Kinh tế phát triển (Phần 2), để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 89
Chương 5
NÔNG NGHIỆP VỚI TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
5.1. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất ra đời đầu tiên, gắn với sự tồn tại và phát
triển của xã hội loài người.
Sản xuất nông nghiệp theo nghĩa hẹp bao gồm hai ngành chính là trồng
trọt và chăn nuôi, còn theo nghĩa rộng, hoạt động sản xuất nông nghiệp ngoài
trồng trọt và chăn nuôi còn bao gồm cả các ngành lâm - ngư nghiệp. Mặt khác,
khi nghiên cứu giải quyết các vấn đề có liên quan đến sản xuất nông nghiệp phải
đặt nông nghiệp trong mối quan hệ mật thiết với kinh tế nông thôn và vấn đề
nông dân. Có thể nói nông nghiệp, nông thôn và nông dân là 3 vấn đề không thể
tách rời trong quá trình phát triển nông nghiệp.
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất có những đặc điểm riêng biệt,
"tuyệt đối không thể bỏ qua" được. Những đặc điểm đó có ảnh hưởng rất lớn
đến công tác tổ chức quản lý cũng như việc đề ra các chính sách, giải pháp kinh
tế đối với nông nghiệp.
5.1.1. Đối tượng của sản xuất nông nghiệp
Là những cơ thể sinh vật (cây trồng, vật nuôi), chúng sinh trưởng và phát
triển theo những quy luật sinh vật riêng và chịu sự chi phối của các quy luật tự
nhiên (quy luật vận động của thời tiết, khí hậu ...). Do đối tượng của sản xuất
nông nghiệp là những cây trồng, vật nuôi nên sản phẩm nông nghiệp là những
sản phẩm tươi sống có hàm lượng nước cao (có loại rất cao) nên chóng bị hỏng,
gây tổn thất sau thu hoạch rất lớn. Có thể nói sản xuất nông nghiệp chịu ảnh
hưởng rất lớn của các yếu tố tự nhiên và phụ thuộc vào sự thay đổi của các yếu
tố đó. Vì vậy, trong quá trình phát triển nông nghiệp, con người không thể ngăn
cản hay can thiệp thô bạo vào quá trình sinh vật, trái lại phải nghiên cứu và nhận
thức được các quy luật đó để vận dụng thích hợp vào sản xuất.
Từ đặc điểm này có thể rút ra kết luận: Nông nghiệp không thể là một hệ
thống kinh tế đơn thuần mà là một hệ thống sinh vật - kỹ thuật. Nó là một trong
những ngành kinh tế phức tạp nhất.
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 90
Nhận thức đặc điểm này giúp cho ta có biện pháp phân vùng, quy hoạch
sản xuất, bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế (thế
mạnh) từng vùng, từng địa phương cũng như từng cơ sở sản xuất. Trong quá
trình xây dựng, trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật và đưa tiến bộ khoa học - công
nghệ vào sản xuất nông nghiệp phải đảm bảo phù hợp với đặc điểm sinh lý, yêu
cầu về kỹ thuật sản xuất (kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch) của từng loại
cây trồng, vật nuôi. Việc nghiên cứu sản xuất giống mới, nhập khẩu giống mới
vào sản xuất nông nghiệp cần phải thận trọng, phải qua khảo nghiệm, kiểm tra
chặt chẽ và phải được khu vực hoá đối với từng loại giống. Nếu việc bố trí các
loại cây trồng, vật nuôi không phù hợp với từng vùng sinh thái từng loại đất đai
hoặc nhập khẩu các loại giống cây trồng, vật nuôi không thích hợp sẽ gây thiệt
hại lớn cho sản xuất nông nghiệp.
Nhận thức và vận dụng các quy luật sinh vật vào thực tiễn sản xuất nông
nghiệp không có nghĩa là con người hoàn toàn lệ thuộc vào chúng và bất lực
trước tự nhiên. Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, con người
ngày càng có khả năng cải tạo tự nhiên, phục vụ tốt hơn cho sản xuất và đời
sống. Vì vậy, mỗi quốc gia, bên cạnh việc thực hiện các giải pháp trên cần có
chiến lược đầu tư cải tạo, chinh phục thiên nhiên, phục vụ phát triển nông
nghiệp toàn diện theo hướng sản xuất hàng hoá, đặc biệt là những vùng có khả
năng ...
Do chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện tự nhiên nên sản xuất nông
nghiệp thường gặp phải thiên tai, gây thiệt hại lớn đến kết quả thu hoạch. Vì
vậy, đòi hỏi Nhà nước phải nghiên cứu các chính sách bảo hiểm sản xuất, chính
sách bảo trợ cho sản xuất nông nghiệp nói chung và chính sách hỗ trợ cho nông
thôn khi có thiên tai nói riêng ...
Do đặc điểm của sản phẩm nông nghiệp nên để giảm tổn thất sau thu
hoạch và đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
trong nước và xuất khẩu cần chú trọng đầu tư cho công nghệ sau thu hoạch như
chế biến, bảo quản, vận chuyển, hệ thống kho chứa .v.v...
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 91
5.1.2. Chu kỳ sản xuất nông nghiệp nói chung là dài và không giống
nhau giữa các loại cây trồng, vật nuôi
Do đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những cơ thể sinh vật nên kết
quả sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào quy luật sinh trưởng, phát dục của từng
loại cây trồng, vật nuôi. Vì vậy trong nông nghiệp chu kỳ sản xuất nói chung là
dài và không giống nhau giữa các loại cây trồng, vật nuôi. Đối với những cây
trồng ngắn ngày (cây lương thực, rau, đậu ...) hay những vật nuôi chóng cho sản
phẩm (gia cầm) cũng phải từ 2 đến 3 tháng. Còn đối với những cây lâu năm (cây
công nghiệp, cây ăn quả ...), các loại gia súc lớn (trâu, bò ...) thì phải từ 3 đến 5
năm hoặc lâu hơn nữa mới cho sản phẩm và cho thu hoạch trong nhiều năm.
Đặc điểm này đòi hỏi khi xây dựng kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản (xây
dựng vườn cây lâu năm), xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh phải phù hợp
với chu kỳ sản xuất, chu kỳ kinh doanh của từng loại cây trồng, vật nuôi. Cần
tính toán chặt chẽ nhu cầu vật tư, tiền vốn đảm bảo quá trình sản xuất tiến hành
thuận lợi. Việc nghiên cứu áp dụng các chính sách kinh tế, nhất là các chính
sách tài chính, tín dụng vào nông nghiệp cần xem xét cụ thể cho phù hợp với
chu kỳ sản xuất của từng loại cây, con. Trong đó ngành tài chính, ngân hàng cần
lưu ý xác định thời hạn cho vay và lãi suất phù hợp với nông nghiệp. Cần áp
dụng nhiều loại thời hạn cho vay (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn) để khuyến khích
nông nghiệp (chủ yếu là nông dân) đầu tư phát triển các loại cây trồng, vật nuôi
có hiệu quả, khai thác lợi thế nông nghiệp nhiệt đới (trồng cây công nghiệp, cây
ăn quả lâu năm ...) hoặc đầu tư cải tạo đất đai ... Trong công tác tổ chức quản lý,
cần áp dụng hình thức tổ chức sản xuất thích hợp để người lao động quan tâm
đến tất cả các khâu, các công đoạn của chu kỳ sản xuất nhằm đạt kết quả cuối
cùng cao nhất.
Do chu kỳ sản xuất dài và phụ thuộc vào chu kỳ sinh học nên trong nông
nghiệp, thời gian lao động không trùng khớp với thời gian tạo ra sản phẩm. Khi
kết thúc một quá trình lao động cụ thể như làm đất, gieo trồng ... chưa có sản
phẩm ngay mà phải chờ đến khi thu hoạch. Vì vậy đòi hỏi trong nông nghiệp,
phải tìm ra hình thức tổ chức kinh tế, hình thức tổ chức lao động và trả công lao
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 92
động thích hợp, gắn người lao động với đối tượng sản xuất và với kết quả cuối
cùng để họ quan tâm và tìm cách tạo ra nhiều sản phẩm với chất lượng và giá
thành hạ.
5.1.3. Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ rất lớn
Do cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp có quy luật sinh trưởng và phát
triển riêng nên sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ rất rõ rệt. Trong quá
trình sản xuất nông nghiệp, có thời kỳ nhu cầu tư liệu sản xuất, sức lao động,
tiền vốn rất căng thẳng (thời kỳ làm đất, gieo trồng ...), ngược lại có thời kỳ lại
rất nhàn rỗi (thời kỳ chăm sóc). Mặt khác, do sự biến đổi của thời tiết, khí hậu
giữa các mùa nên mỗi loại cây trồng thường có sự thích nghi nhất định với điều
kiện đó dẫn đến thời vụ gieo trồng và thu hoạch của các loại cây trồng cũng rất
khác nhau. Muốn hạn chế tính chất thời vụ cần lưu ý, ở thời kỳ căng thẳng cần
đảm bảo đủ nhu cầu về công cụ sản xuất, tập trung sức lao động, tiền vốn kịp
thời. Cần có kế hoạch dự trữ vật tư, kỹ thuật; kế hoạch huy động sức lao động và
vốn để đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu trong lúc mùa vụ khẩn trương. Để giảm
bớt tình trạng nông nhàn, cần quan tâm phát triển nông nghiệp toàn diện, nhất là
quan tâm khôi phục các ngành nghề truyền thống, phát triển các ngành công
nghiệp nông thôn và các hoạt động dịch vụ ... Về phía Nhà nước và các ngành
dịch vụ nông nghiệp (tín dụng, vật tư, thuỷ nông ...) cần nghiên cứu thực hiện
các chính sách, giải pháp để đáp ứng kịp thời nhu cầu vật tư tiền vốn cũng như
các dịch vụ kỹ thuật; đáp ứng kịp thời nhu cầu thời vụ của từng loại cây trồng.
Do sản xuất và thu hoạch theo thời vụ nên quy luật cung cầu có tác động
rất mạnh đến giá cả các loại nông sản (thông thường giá giảm vào thời kỳ thu
hoạch, tăng vào đầu kỳ hoặc cuối kỳ thu hoạch hay lúc giáp hạt). Vì vậy, Nhà
nước cần đầu tư nghiên cứu các chính sách và giải phát cụ thể để điều tiết cung
cầu, đảm bảo lợi ích cho người sản xuất nông nghiệp. Chẳng hạn đối với lương
thực hoặc một số nông sản xuất khẩu chủ lực, khi giá thị trường xuống quá thấp,
gây bất lợi cho nông dân, Nhà nước có thể quy định giá sàn và bắt buộc các tổ
chức kinh doanh, xuất khẩu mua dự trữ. Trong thời gian dự trữ, các tổ chức đó
được Nhà nước cho vay vốn với lãi suất ưu đãi, thậm chí không lấy lãi. Hoặc
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 93
Nhà nước đầu tư cho việc nghiên cứu công nghệ chế biến, bảo quản sản phẩm để
tránh tổn thất sau thu hoạch, kéo dài thời gian tiêu thụ có ích cho người sản xuất.
5.1.4. Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất cơ bản hàng
đầu và đặc biệt, không thể thiếu, không thể thay thế được
Ruộng đất tham gia trực tiếp vào quá trình tạo ra sản phẩm nông nghiệp.
Nó không chỉ là điều kiện vật chất để tồn tại ngành này mà còn tham gia với vai
trò là tư liệu sản xuất cơ bản của nông nghiệp. Hậu quả của sản xuất nông
nghiệp nói chung phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng ruộng đất. Mặt khác, hiệu quả
sử dụng ruộng đất lại phụ thuộc vào mức độ đầu tư các tư liệu sản xuất khác (vật
tư, giống, thuỷ lợi ...), đầu tư vốn vào đơn vị diện tích đất đai sử dụng và phụ
thuộc vào việc giải quyết mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng
ruộng đất, giải quyết mối quan hệ giữa ruộng đất và nông thôn.
Ruộng đất tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp với tư cách là tư
liệu sản xuất nhưng nó có những đặc điểm khác với các tư liệu sản xuất khác:
ruộng đất là tài nguyên thiên nhiên có giới hạn về diện tích, có vị trí cố định và
chất lượng đất đai không đồng đều giữa các vùng... Những đặc điểm đó ảnh có
hưởng lớn đến việc khai thác, sử dụng ruộng đất vì vậy cần được nghiên cứu và
vận dụng một cách thích hợp vào thực tiễn phát triển nông nghiệp. Trong đó cần
đặc biệt quan tâm đến chính sách đầu tư cho công tác phân vùng, quy hoạch sử
dụng ruộng đất, đầu tư xây dựng các công trình bảo vệ, cải tạo đất và sử dụng
ruộng đất; chính sách thuế sử dụng đất nói chung và đất nông nghiệp nói riêng.
5.1.5. Sản xuất nông nghiệp diễn ra trên phạm vi không gian rộng lớn
phức tạp và mang tính khu vực rất rõ nét
Hoạt động sản xuất nông nghiệp bao gồm các khâu từ cung ứng các điều
kiện sản xuất (cung ứng các yếu tố đầu vào) đến sản xuất, chế biến và tiêu thụ
sản phẩm. Các hoạt động đó được tiến hành trên một địa bàn rộng lớn, phức tạp,
thuộc nhiều vùng lãnh thổ có những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội cũng như
lịch sử truyền thống rất khác nhau. Mỗi vùng, mỗi địa phương có những lợi thế
riêng, đồng thời cũng có những khó khăn, phức tạp trong khi phát triển kinh tế -
xã hội nói chung và nông nghiệp nói riêng.
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 94
Vì vậy sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả cao cần tạo ra sự liên kết chặt
chẽ giữa các ngành có liên quan, từ sản xuất đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
Cần gắn phát triển nông nghiệp với lâm - ngư nghiệp và công nghiệp chế biến ở
từng địa phương, từng vùng lãnh thổ. Việc quy hoạch các vùng nông nghiệp
chuyên môn hoá (vùng lúa, chè, cà phê, mía ...) cần gắn với việc quy hoạch phát
triển giao thông vận tải, các ngành dịch vụ và công nghiệp chế biến, bảo quản,
tiêu thụ sản phẩm.
Để tận dụng được lợi thế so sánh của từng vùng trong phát triển kinh tế
nói chung và nông nghiệp, nông thôn nói riêng, cần làm tốt công tác phân vùng,
quy hoạch và bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện từng vùng. Đồng
thời, Nhà nước cần quan tâm đầu tư đồng bộ cho các vùng, các địa phương về
cơ sở hạ tầng cũng như đầu tư cho phát triển giáo dục và đào tạo, nhất là những
vùng khó khăn, những vùng chậm phát triển. Cần nghiên cứu và thực hiện các
chính sách ưu đãi đối với những vùng khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội.
Đối với những vùng có nhiều lợi thế trong phát triển nông nghiệp, cần có chính
sách ưu tiên trong đầu tư vốn, tạo điều kiện và khuyến khích các thành phần
kinh tế, các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài đầu tư vào các vùng đó.
5.2. Vai trò của sản xuất nông nghiệp đối với tăng trưởng và phát
triển kinh tế
Trong lịch sử phát triển của xã hôi loài người, nông nghiệp là ngành sản
xuất ra đời đầu tiên. Đã từ lâu, nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật
chất cơ bản của xã hội và ngày càng có vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng
và phát triển kinh tế đất nước.
5.2.1. Nông nghiệp là ngành sản xuất và cung cấp những sản phẩm
tiêu dùng thiết yếu, có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của loài
người như lương thực, thực phẩm. Đây là những vật phẩm tiêu dùng không thể
thay thế được đối với đời sống con người. Như C.Mác đã khẳng định "Trước hết
con người cần phải có ăn, uống, ở và mặc trước khi lo chuyện làm chính trị,
khoa học, nghệ thuật và tôn giáo ...". Trên ý nghĩa đó, nông nghiệp trở thành
ngành sản xuất đảm bảo những điều kiện đầu tiên cho loài người tồn tại, phát
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 95
triển và là điều kiện không thể thiếu đảm bảo cho tất cả các ngành, các lĩnh vực
của nền kinh tế tăng trưởng và phát triển bền vững.
5.2.2. Nông nghiệp là ngành có thể tự sản xuất ra những tư liệu sản
xuất không thể thay thế để tái sản xuất bản thân ngành nông nghiệp (như các
loại giống cây trồng, vật nuôi, thức ăn chăn nuôi ...); đồng thời nông nghiệp còn
cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp và dịch vụ phát triển như:
các ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp, một số
ngành công nghiệp nặng và các ngành dịch vụ ăn uống, giải khát ... Có thể nói
sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp và dịch vụ phụ thuộc vào nguồn
nguyên liệu do nông nghiệp cung cấp. Mặt khác sản phẩm nông nghiệp qua chế
biến sẽ được nâng cao chất lượng, tăng thêm giá trị và giá trị sử dụng, đáp ứng
được nhu cầu trong nước và xuất khẩu, từ đó thúc đẩy các ngành công nghiệp,
dịch vụ cũng như nền kinh tế tăng trưởng và phát triển. Vì vậy, các nước xuất
khẩu nông sản đều rất chú trọng đầu tư phát triển công nghiệp chế biến, hạ thấp
tỷ lệ sản phẩm sơ chế, nâng dần tỷ lệ sản phẩm tinh chế, nhất là những mặt hàng
phục vụ xuất khẩu.
Nông nghiệp là nơi sản xuất và cung cấp các mặt hàng xuất khẩu có giá
trị, tạo nguồn tích luỹ ban đầu và thường xuyên cho nền kinh tế. Thông qua xuất
khẩu nông sản, nông nghiệp đã đóng góp tích luỹ ngày càng nhiều cho nền kinh
tế, đồng thời góp phần mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại tạo điều kiện thúc đẩy
nền kinh tế phát triển. Đối với nước ta, xuất khẩu nông sản và những mặt hàng
tiểu thủ công nghiệp đang là thế mạnh, tạo điều kiện cho nền kinh tế đất nước
cũng như nông nghiệp, nông thôn tiếp thu nhanh tiến bộ khoa học và công nghệ
của thế giới, nhanh chóng hoà nhập vào nền kinh tế của khu vực và trên thế giới.
Trong những năm qua, nông nghiệp và nông thôn nước ta đã tạo ra nhiều mặt
hàng xuất khẩu quan trọng như: gạo, chè, cà phê, cao su, các sản phẩm thủ công,
mỹ nghê, các mặt hàng thuỷ, hải sản ... đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho nền
kinh tế. Đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất lương thực, nông nghiệp nước ta đã đạt
thành tựu rất khả quan. Từ một nước thường xuyên phải nhập lương thực, nạn
đói thường xuyên đe doạ; đến nay, nước ta chẳng những tự giải quyết được nhu
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 96
cầu lương thực mà còn trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới
(sau Thái Lan). Liên tục từ năm 1989 đến nay, lượng gạo xuất khẩu của nước ta
ngày càng tăng (từ 1,42 triệu tấn năm 1989 đã tăng lên 4,5 triệu tấn năm 1999,
và 3,5 triệu tấn vào năm 2000, 2001).
5.2.3. Nông nghiệp là nơi cung cấp nguồn nhân lực dồi dào cho các
ngành kinh tế xã hội phát triển
Có thể nói, nông nghiệp là ngành duy nhất, dưới tác động của tiến bộ
khoa học và công nghệ, số lượng lao động ngày càng giảm xuống cả tương đối
và tuyệt đối. Nhờ đó nông nghiệp có thể tạo ra lao động dư thừa để chuyển dần
sang phát triển công nghiệp, dịch vụ và các lĩnh vực khác.
Ở nước ta, theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê thì lao động nông
nghiệp vẫn chiếm khoảng 70% tổng số lao động xã hội và 76,5% dân số đang
sống ở vùng nông thôn. Đó là một nguồn tiềm năng lao động quý giá, là đội
quân dự bị hùng hậu cho phát triển công nghiệp, dịch vụ trong tương lai khi nền
kinh tế đất nước chuyển sang giai đoạn công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
5.2.4. Nông nghiệp còn là thị trường rộng lớn để tiêu thụ sản phẩm
hàng hoá của các ngành công nghiệp và dịch vụ, góp phần quan trọng thúc
đẩy các ngành tăng trưởng và phát triển
Nông nghiệp càng phát triển thì các nhu cầu về tư liệu sản xuất (máy móc,
thiết bị, phân bón, hoá chất ...) và tư liệu tiêu dùng cũng như nhu cầu dịch vụ
ngày càng nhiều sẽ tạo ra sức mua ngày càng lớn đối với các sản phẩm công
nghiệp và dịch vụ. Ngược lại, nếu nông nghiệp kém phát triển, lạc hậu, sức mua
thấp thì công nghiệp và dịch vụ cũng không phát triển được.
Vì vậy, muốn nông nghiệp, nông thôn trở thành thị trường rộng lớn tiêu
thụ sản phẩm công nghiệp và dịch vụ, trước hết phải quan tâm phát triển toàn
diện kinh tế nông nghiệp, nông thôn; tạo điều kiện cho nông dân chuyển sang
phát triển sản xuất hàng hoá, để nâng dần sức mua của nông dân.
5.2.5. Sự phát triển của nông nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ
phát triển kinh tế đất nước và tốc độ tăng trưởng GDP, đặc biệt là đối với
những nước đang phát triển và chủ yếu là sản xuất nông nghiệp như nước ta.
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 97
Trong những năm 80, hàng năm nông nghiệp tạo ra từ 40 - 50% thu nhập quốc
dân. Đến nay, nông nghiệp nước ta vẫn chiếm tỷ trọng cao trong GDP (năm
1999 là 25,4%, năm 2000 là 24,3% trong GDP của nền kinh tế).
Phát triển nông nghiệp sẽ làm tăng nguồn dự trữ lương thực cho quốc gia,
đảm bảo nhu cầu cho quân đội, tăng cường khả năng quốc phòng cho đất nước.
Dự trữ lương thực là vấn đề sống còn của mỗi nước, là tiềm lực kinh tế thể hiện
sức mạnh thực sự của mỗi quốc gia. Đảm bảo dự trữ lương thực sẽ hạn chế
những khó khăn, những rủi ro trong phát triển kinh tế và đời sống nhân dân, tạo
cơ sở cho việc ổn định và phát triển đất nước, giữ vững an ninh và chủ quyền
dân tộc.
5.2.6. Phát triển nông nghiệp còn có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo
vệ và cải tạo môi trường thiên nhiên. Với đối tượng sản xuất là cây trồng, vật
nuôi gắn liền với đất đai, phát triển nông nghiệp tạo nên một hệ sinh thái hoàn
chỉnh, đảm bảo sự phát triển cân bằng giữa các vùng, góp phần vào việc bảo vệ
môi sinh. Tuy nhiên muốn nông nghiệp thực sự đóng góp vào việc bảo vệ môi
trường, đòi hỏi mỗi nước phải có một chiến lược phát triển nông nghiệp đúng
đắn, phải biết khai thác lợi thế phát triển nông nghiệp từng vùng, phải biết kết
hợp nhiều loại nông sản theo một hệ sinh thái hoàn chỉnh, tránh sử dụng quá
mức các loại hoá chất, tiến tới phát triển một nền nông nghiệp sạch, nền nông
nghiệp sinh thái.
Như vậy, xét trên các mặt về kinh tế, xã hội và môi trường thì nông
nghiệp có vai trò hết sức quan trọng đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế
của mỗi nước. Trong điều kiện hiện nay, hầu hết các nước đều nhận rõ: Nếu
không có một nền nông nghiệp phát triển, một nền nông nghiệp tiên tiến thì nền
kinh tế quốc dân khó có thể phát triển vững chắc với tốc độ cao được. Thực tế ở
nhiều nước đã chứng minh, nước nào có nền nông nghiệp phát triển vững chắc
đều đạt được những bước phát triển ổn định về kinh tế. Nông nghiệp được coi là
điểm xuất phát của phát triển hay cải cách kinh tế của nhiều quốc gia. Vì vậy,
các quốc gia đều rất chú trọng đến phát triển nông nghiệp, tạo điều kiện thuận
lợi để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển.
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 98
Đối với nước ta, từ một nước mà nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và
tuyệt đại bộ phận dân số đang sống ở nông thôn, thì nông nghiệp, nông thôn
càng có vị trí và vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước.
Nhận thức được điều đó nên trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế qua
các thời kỳ, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đặc biệt đến phát triển nông
nghiệp, nông thôn.
Ở mỗi giai đoạn lịch sử của đất nước, trong đường lối phát triển kinh tế -
xã hội của Đảng đều khẳng định vị trí quan trọng hàng đầu của nông nghiệp,
nông thôn: coi việc "phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế
biến, phát triển toàn diện nền kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới là
nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế - xã hội".
Để phát huy vai trò quan trọng của nông nghiệp đối với phát triển kinh tế
- xã hội thì con đường tất yếu là phải chuyển nông nghiệp nước ta từ tình trạng
phổ biến là sản xuất nhỏ, tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hoá. Đó là xu hướng
phát triển tất yếu, hợp quy luật chuyển biến từ nền nông nghiệp truyền thống, lạc
hậu thành nền nông nghiệp tiên tiến, hiện đại. Tuy nhiên cần nhận thấy rằng đưa
nông nghiệp sang phát triển sản xuất hàng hoá là quá trình lâu dài, đầy khó khăn
và phức tạp. Quá trình đó đòi hỏi sự nỗ lực, cố gắng không những của bản thân
ngành nông nghiệp, mà cần có sự giúp đỡ của các ngành và đặc biệt là sự hỗ trợ
của Nhà nước. Nhà nước phải chủ động điều khiển và tạo điều kiện thuận lợi để
hình thành dần những đặc trưng của nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá; cần có
chính sách gắn được sự phát triển của nông nghiệp với công nghiệp, thương mại
- dịch vụ và các ngành, các lĩnh vực có liên quan khác ...
5.3. Một số vấn đề kinh tế chủ yếu trong phát triển nông nghiệp nước ta
Sau hơn mười năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng
và lãnh đạo, nông nghiệp nông thôn nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn
và toàn diện. Từ một nền nông nghiệp tự cấp tự túc, lạc hậu, thiếu lương thực
triền miên đến nay về cơ bản đã là một nền nông nghiệp hàng hoá, đảm bảo an
ninh lương thực quốc gia, có tỷ suất hàng hoá ngày càng cao, nhiều mặt hàng có
số lượng xuất khẩu lớn, chiếm vị thế cao trong khu vực và trên thế giới; đã hình
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 99
thành một số vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, chuyên canh gắn với công
nghiệp chế biến như lúa gạo, mía đường ... Cơ cấu kinh tế nông nghiệp đã có sự
chuyển biến tích cực. Trình độ sản xuất nông nghiệp đã có những tiến bộ đáng
kể, nhất là về khoa học và công nghệ. Quan hệ sản xuất ở nông thôn đã có
những đổi mới đúng hướng và có tác động tích cực đến phát triển nông nghiệp
hàng hoá. Thu nhập và đời sống của đại bộ phận dân cư nông thôn được nâng
lên rõ rệt. Tuy nhiên, trong quá trình đổi mới, nông nghiệp còn gặp nhiều khó
khăn, hạn chế. Những kết quả đạt được chưa tương xứng với những tiềm năng
và sự phấn đấu của nông dân. Cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn còn lạc
hậu. Các hình thức tổ chức sản xuất đổi mới còn chậm. Thị trường chưa phát
triển, còn nhiều bế tắc trong tiêu thụ sản phẩm. Tình trạng phân hoá giàu nghèo
vẫn có xu hướng gia tăng.
Từ thực tiễn phát triển nông nghiệp trong những năm qua, từ quan điểm
coi nông nghiệp, nông thôn là cơ sở của tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội và
nâng cao đời sống nhân dân, định hướng phát triển nông nghiệp nước ta thời
gian tới là: Xây dựng một nền nông nghiệp hàng hoá mạnh, phát triển đa dạng
và bền vững, từng bước hiện đại hoá trên cơ sở áp dụng công nghệ mới, công
nghệ cao, có khả năng cạnh tranh quốc tế. Đó là định hướng tổng quát, lâu dài
nhằm chuyển nền nông nghiệp nước ta từ tình trạng sản xuất lạc hậu, chủ yếu là
tự cấp tự túc thành nền nông nghiệp hàng hoá lớn, đạt trình độ tiên tiến trong
khu vưc và trên thế giới.
Để từng bước xây dựng và phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá
lớn đòi hỏi phải giải quyết hàng loạt những vấn đề phức tạp. Những vấn đề
không chỉ ở lĩnh vực quan hệ sản xuất mà cả ở lĩnh vực lực lượng sản xuất,
không chỉ trong nội bộ ngành nông nghiệp mà là vấn đề có liên quan đến nhiều
ngành, nhiều lĩnh vực khác của nền kinh tế quốc dân. Trong điều kiện nước ta
hiện nay cần quan tâm giải quyết một số vấn đề kinh tế chủ yếu sau:
5.3.1. Quy hoạch các vùng nông nghiệp sản xuất hàng hoá
Muốn tiến hành quy hoạch các vùng nông nghiệp sản xuất hàng hoá có cơ
sở khoa học đòi hỏi Nhà nước phải xây dựng được chiến lược phát triển kinh tế -
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 100
xã hội nói chung và chiến lược phát triển nông nghiệp nói riêng. Trong nông
nghiệp phải xây dựng được chiến lược phát triển những cây, con chủ lực (chiến
lược sản xuất lúa gạo, cà phê, chè, cao su ...)
Trong quy hoạch các vùng nông nghiệp sản xuất hàng hoá cần quán triệt
quan điểm phát triển nông nghiệp toàn diện, đảm bảo an ninh lương thực quốc
gia, phát triển các vùng cây công nghiệp, vùng rau, hoa quả và các loại nông
sản nguyên liệu để thay thế nhập khẩu mà nước ta có khả năng như bông, đậu
tương, ngô, sữa ...
Quy hoạch các vùng nông nghiệp phải gắn với quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, phù hợp xu
thế hội nhập kinh tế quốc tế. Trong quy hoạch cần quan tâm phát triển các vùng
nông nghiệp xuất khẩu, vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, vùng nông
nghiệp sinh thái (kết hợp phát triển nông nghiệp với du lịch) và các khu nông
nghiệp công nghệ cao.
Các quy hoạch phải được xây dựng trên cơ sở đánh giá đầy đủ các yếu tố
tác động đến quy hoạch như: đất đai, thị trường, vốn, khoa học và công nghệ,
nhân lực ...
Quy hoạch phải có tính liên ngành theo vùng và tiểu vùng kinh tế - sinh
thái, không nên quy hoạch phát triển theo cấp hành chính - kinh tế. Trong quy
hoạch các vùng sản xuất hàng hoá nông nghiệp phải gắn với công nghiệp chế
biến, bảo quản, các dịch vụ hỗ trợ, cơ sở hạ tầng và các điều kiện thị trường cần
thiết khác (kho tàng, bến bãi, chợ bán buôn, bán lẻ ...).
Trên cơ sở quy hoạch, Nhà nước cũng như các địa phương cần có chính
sách khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển tất cả các ngành, các
lĩnh vực có liên quan phát triển của vùng, như phát triển trang trại, công nghiệp
chế biến, dịch vụ, cơ sở hạ tầng ... Về phía Nhà nước: các cấp, các ngành cần có
những quy định, hướng dẫn, khuyến cáo và quản lý chặt chẽ việc khai thác, sử
dụng tài nguyên (đất, nước) vào phát triển nông - lâm - ngư nghiệp cho phù hợp
với quy hoạch.
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 101
Quy hoạch các vùng nông nghiệp sản xuất hàng hoá một cách khoa học,
chính xác là cơ sở để Nhà nước, các ngành và các cơ sở sản xuất đầu tư phát
triển sản xuất các nông sản hàng hoá có hiệu quả, tạo điều kiện để khai thác lợi
thế so sánh của đất nước cũng như từng vùng, địa phương trong phát triển nông
nghiệp. Quy hoạch các vùng nông nghiệp hàng hoá còn tạo điều kiện để phát
triển nông nghiệp bền vững, tránh tình trạng phát triển tự phát, bất chấp cả việc
huỷ hoại môi trường tự nhiên và dưa thừa nông sản không tiêu thụ được.
5.3.2. Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp, có hiệu quả
trong nông nghiệp, nông thôn
Nền kinh tế nước ta hiện nay được đặc trưng bởi nhiều thành phần kinh tế,
với nhiều chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất như: kinh tế nhà nước,
kinh tế tập thể, kinh tế cá thể và tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, tư bản nhà
nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên do mỗi ngành sản xuất, kinh
doanh có những đặc điểm riêng biệt nên cần lựa chọn và phát triển các hình thức
tổ chức sản xuất phù hợp, có hiệu quả. Trong điều kiện nông nghiệp nước ta, cần
quan tâm phát triển các hình thức tổ chức sản xuất sau:
- Kinh tế hộ gia đình nông dân:
Về mặt lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn phát triển nông nghiệp
hàng trăm năm của các nước trên thế giới đều khẳng định kinh tế hộ gia đình
nông dân tồn tại là một tất yếu, là hình thức tổ chức kinh tế phù hợp với đặc
điểm sản xuất nông nghiệp.
Kinh tế hộ gia đình nông dân là một hình thức tổ chức kinh tế, là đơn vị
kinh tế cơ sở, có quyền tự chủ sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp, vừa có
những đặc trưng của một đơn vị kinh tế (một doanh nghiệp) vừa có những đặc
trưng của một hộ gia đình.
Với tư cách là một hộ gia đình nên các thành viên tham gia sản xuất là
những người có quan hệ với nhau về hôn nhân và huyết thống (có thể có thành
viên ngoài gia đình tham gia nhưng chỉ có tính tạm thời - lao động thời vụ), họ
cùng sống chung trong một mái nhà (trong một căn hộ), có chung một nguồn thu
nhập (chung ngân quỹ) và thực hiện chức năng tái sản xuất ra con người - sức
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 102
lao động tương lai. Là đơn vị kinh tế gắn với từng hộ gia đình nông dân nên
người chủ gia đình có chức năng nuôi dạy và giáo dục con cái để tạo sức lao
động tương lai, để có người kế nghiệp.
Với tư cách là đơn vị kinh tế, kinh tế hộ gia đình nông dân cũng giống
như các đơn vị kinh tế là thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh (tạo ra của cải
vật chất) và người chủ gia đình phải thực hiện chức năng quản lý sản xuất kinh
doanh (chức năng của người chủ doanh nghiệp) đồng thời trực tiếp tham gia sản
xuất (chức năng của một công nhân - người lao động trực tiếp).
Đối với nước ta, kinh tế hộ gia đình nông dân ngày càng khẳng định vị trí
quan trọng của nó trong sản xuất nông nghiệp, trở thành hình thức tổ chức sản
xuất cơ bản, có hiệu quả cao trong nông nghiệp. Kinh tế hộ gia đình nông dân
nước ta hiện nay cũng như sau này sẽ là khu vực chủ yếu sản xuất và cung cấp
nông sản cho xã hội (kể cả tiêu dùng trong nước và xuất khẩu). Sự tồn tại kinh tế
hộ gia đình nông dân sẽ có ý nghĩa chi phối đến phương thức, nội dung hoạt
động của các hình thức tổ chức sản xuất khác trong nông nghiệp (các loại hợp
tác xã, doanh nghiệp nhà nước, các công ty cổ phần, liên doanh ...); chi phối đến
phương hướng hoạt động của các ngành có liên quan đến nông nghiệp, nông
thôn, đặc biệt là các ngành công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất phục vụ nông
nghiệp và kinh tế nông thôn, các ngành công nghiệp chế biến, các ngành dịch
vụ, giáo dục, đào tạo ... Đồng thời sự tồn tại kinh tế hộ gia đình còn chi phối đến
việc nghiên cứu, xây dựng hệ thống chính sách kinh tế và các giải pháp kinh tế
vĩ mô của nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn.
Trước tình hình khủng hoảng, bế tắc của phong trào hợp tác hoá, ở một số
địa phương đã xuất hiện "khoán hộ" và sau đó là sự ra đời của Chỉ thị 100
CT/TW (tháng 1/1981) về khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao
động. Sau dó là Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về "đổi mới quản lý kinh tế
nông nghiệp". Thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị cùng với Nghị quyết
TW khoá VI, hộ gia đình xã viên được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ, là
nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với phát triển nông nghiệp ở nước ta. Điều đó
hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng của hàng chục triệu nông dân. Vì vậy từ
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 103
1988 đến nay, sản xuất nông nghiệp nước ta liên tục tăng trưởng, đáp ứng nhu
cầu cơ bản cho tiêu dùng trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu.
Tuy nhiên đã hơn 10 năm hộ gia đình nông dân được thừa nhận là đơn vị
kinh tế tự chủ, nhưng trong thực tế, việc thực hiện quyền tự chủ của họ vẫn còn
nhiều hạn chế và mâu thuẫn. Việc thừa nhận hộ là đơn vị kinh tế tự chủ nhưng
cho đến nay ở một số địa phương mô hìn hợp tác xã kiểu cũ vẫn còn tồn tại,
những vấn đề về đất đai và cơ chế quản lý vĩ mô chưa đổi mới kịp. Tình trạng
chia đất manh mún sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đang là cản trở lớn đến
phát triển nông nghiệp hàng hoá của mỗi hộ gia đình nông dân. Về phía bản thân
các hộ gia đình nông dân, chưa thật sự có năng lực làm chủ trong nền kinh tế thị
trường do trình độ có hạn, do thiếu vốn, do sống lâu trong mô hình hợp tác xã -
tập thể hoá, trong cơ chế bao cấp ... Những mâu thuẫn và những hạn chế đó
đang là lực cản cho sự phát triển của kinh tế hộ gia đình nông dân theo hướng
phát triển sản xuất hàng hoá. Vì vậy để hộ gia đình nông dân thực sự trở thành
đơn vị kinh tế tự chủ sản xuất hàng hoá đòi hỏi phải có một hệ thống giải pháp
đồng bộ từ phía Nhà nước (trung ương, địa phương), của các ngành cũng như
của bản thân từng hộ.
Tuy nhiên, việc hình thành các trang trại gia đình đòi hỏi phải có thời
gian. Sự hình thành và phát triển của mô hình trang trại gia đình gắn liền với sự
phát triển của lực lượng sản xuất và sự phân công lao động xã hội, sự phân hoá
các ngành nghề ngay trên từng địa phương. Đối với nước ta không phải vùng
nào cũng có khả năng hình thành nhanh chóng các trang trại. Trong điều kiện
hiện nay đối với vùng đất đai bình quân đầu người cao, khả năng mở thêm diện
tích canh tác còn lớn, nhất là các tỉnh trung du, miền núi, các tỉnh vùng đồng
bằng sông Cửu Long, thì khả năng hình thành các trang trại sẽ nhanh hơn.
Mặt khác, cần nhận thức ở nước ta hiện nay không phải chỉ có các hộ gia
đình nông dân (hộ xã viên trong các hợp tác xã trước đây, hộ nông dân cá thể)
mà cả các hộ công nhân trong các nông, lâm trường quốc doanh cũng trở thành
đơn vị kinh tế tự chủ (số đông sẽ trở thành trang trại). Đây là vấn đề đang có
những nhận thức khác nhau mà thực tiễn đang đặt ra cần giải quyết. Vì vậy để
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 104
tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình chuyển mạnh sang sản xuất hàng hoá, hình
thành các trang trại gia đình, cần quan tâm giải quyết các vấn đề sau:
- Một là, cần thực hiện nhất quán luật đất đai đối với các hộ (không phân
biệt các hộ như hiện nay). Tất cả các hộ đều phải được Nhà nước giao quyền sử
dụng đất đai lâu dài hoặc cho thuê theo luật đất đai. Hiện nay các hộ nông dân
(hộ xã viên trước đây và hộ cá thể) được Nhà nước giao quyền sử dụng đất đai
lâu dài, còn các hộ công nhân trong các nông, lâm trường lại do các nông, lâm
trường giao đất dưới dạng khoán, đấu thầu hoặc bán (bán vườn cây). Nhà nước
cùng các địa phương cần tiến hành điều tra tình hình quản lts, sử dụng đất đai
trong tất cả các nông, lâm trường để có biện pháp quản lý phù hợp với luật đất
đai và giao quyền sử dụng lâu dài cho các tổ chức, cá nhân, chủ yếu là cho nông
dân.
- Hai là, cần xoá bỏ những ràng buộc phi lý đối với kinh tế hộ gia đình
nông dân. Khi hộ gia đình trở thành đơn vị kinh tế tự chủ thì hộ toàn quyền
quyết định tất cả các vấn đề có liên quan đến sản xuất kinh doanh như: sản xuất
cái gì ? sản xuất như thế nào ? sản xuất cho ai ? cũng như phân phối kết quả làm
ra. Song trên thực tế các hợp tác xã và nông trường quốc doanh vẫn chưa đổi
mới kịp, chưa thật sự tôn trọng quyền tự chủ của các hộ, vẫn còn bắt các hộ
đóng góp một số khoản theo diện tích đất để nuôi bộ máy, trong lúc bộ máy đó
không giúp được gì cho kinh tế hộ. Về phía các địa phương, nhất là các cấp xã
vẫn còn bắt các hộ gia đình đóng góp quá nhiều khoản, nhiều nơi trở thành gánh
nặng đối với các hộ gia đình nông dân.
- Ba là, Nhà nước cần có kế hoạch giúp đỡ kinh tế hộ gia đình nông dân
từng bước tháo gỡ khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Từ sản xuất nhỏ lạc hậu, chủ yếu là tự cấp, tự túc chuyển sang sản xuất
hàng hoá nên các hộ gia đình gặp rất nhiều khó khăn, hạn chế trong sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy cần có kế hoạch và xác định rõ thức tự các nội dung
cần ưu tiên trong việc giúp đỡ nông dân. Trong những năm tới cần tập trung vào
các vấn đề sau:
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 105
+ Giúp nông dân định hướng sản xuất: sản xuất cái gì mà thị trường cần
và cần bao nhiêu ?
+ Giúp nông dân ứng dụng khoa học và công nghệ.
+ Giúp nông dân vay vốn thuận lợi.
+ Cần có giải pháp đồng bộ giúp nông dân tiêu thụ sản phẩm một cách có
lợi nhất. Muốn giúp nông dân tiêu thụ được sản phẩm Nhà nước phải quan tâm
từ công tác xây dựng chiến lược phát triển từng loại nông sản, công tác quy
hoạch, giống, chế biến, bảo quản, tìm kiếm thị trường và các giải pháp bảo trợ
lúc cần thiết.
+ Giúp nông dân đào tạo nâng cao trình độ sản xuất, kinh doanh thích ứng
với nền kinh tế thị trường.
- Phát triển đa dạng các hình thức hợp tác và hợp tác xã (kinh tế tập thể)
Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu,
lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra, theo quy định của pháp luật để
phát huy sức mạnh tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có
hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống,
góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Về phương diện lý luận cũng như kinh nghiệm hàng trăm năm phát triển
nông nghiệp ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển đều khẳng định sự
phát triển các hình thức hợp tác và hợp tác xã trong nông nghiệp là một tất yếu.
Trong nền kinh tế thị trường do quy luật cạnh tranh nên từng hộ gia đình
muốn tồn tại và phát triển họ phải hợp tác với nhau. Bởi lẽ, để tạo ra sản phẩm
và dịch vụ có chất lượng cao, giá thành hạ để cạnh tranh được trên thị trường thì
có những khâu từng hộ không làm được, hoặc làm không hiệu quả (chẳng hạn
như khâu thuỷ lợi, đưa giống mới vào sản xuất, tiêu thụ nông sản ...). Từ đó để
bảo vệ và thực hiện lợi ích, các hình thức hợp tác và hợp tác xã phát triển rất đa
dạng. Người nông dân có thể hợp tác với nhau thông qua thị trường (thông qua
quan hệ mua bán) và hợp tác với nhau thông qua các tổ chức kinh tế mà họ lập
ra - Đó là các hợp tác xã, các hiệp hội ... Về nguyên tắc, những khâu nào thông
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 106
qua thị trường không giải quyết được hoặc có thể gây ra những bất lợi cho nông
dân thì có thể hình thành hợp tác xã.
Đối với nước ta hiện nay, cần tạo điều kiện và khuyến khích phát triển đa
dạng các hình thức hợp tác và hợp tác xã phù hợp với từng lĩnh vực, từng địa
phương. Chẳng hạn, giữa các hộ gia đình nông dân có thể hợp tác với nhau để
làm dịch vụ, để cùng sản xuất kinh doanh dưới các hình thức như: tổ hợp tác, tổ
liên giam, hợp tác xã, tổ cộng đồng dân cư ... Hoặc các hộ nông dân có thể hợp
tác với các tổ chức khác, trước hết là các tổ chức của nhà nước như các trung
tâm, viện nghiên cứu, các công ty dịch vụ, chế biến, kinh doanh nông sản. Hình
thức hợp tác này có thể thực hiện thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc dưới
dạng công ty cổ phần ... Ngoài ra, nông dân còn có thể hợp tác với nhau thông
qua việc thành lập các hiệp hội (hội làm vườn, hội nuôi ong, nuôi ba ba ...)
Nông nghiệp càng chuyển mạnh sang sản xuất hàng hoá thì nhu cầu hợp
tác sẽ ngày càng tăng và sẽ phát triển đa dạng các loại hình hợp tác xã. Trong
điều kiện nước ta, để hợp tác xã phát triển, trở thành hình thức tổ chức sản xuất
có hiệu quả, phù hợp nguyện vọng của nông dân cần quan tâm giải quyết các
vấn đề sau:
- Trước hết, cần khẳng định các hình thức hợp tác và hợp tác xã được phát
triển trên cơ sở tự nguyện của những người lao động (có nhu cầu lợi ích cùng
góp vốn, góp sức tạo ra).
Điều đó có nghĩa là không được bắt ép nông dân tham gia các hình thức
hợp tác và hợp tác xã dưới bất cứ hình thức nào và Nhà nước không được can
thiệp trực tiếp vào việc thành lập các hình thức của kinh tế tập thể.
- Hai là, cần khuyến khích và tạo điều kiện phát triển đa dạng các hình
thức hợp tác và hợp tác xã phù hợp với từng lĩnh vực, từng địa phương. Sự phát
triển đa dạng các hình thức hợp tác xã hiện nay phải có sự thay đổi căn bản về
mô hình so với hợp tác xã kiểu cũ. Hay nói cách khác là phát triển các hợp tác
xã kiểu mới phải có sự thay đổi căn bản về chất so với các hợp tác xã - tập thể
hoá trước đây.
Hợp tác xã kiểu mới có các đặc trưng là:
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 107
+ Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế, một hình thức liên hiệp tự nguyện
của các hộ nông dân tự chủ.
+ Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế độc lập cùng tồn tại gắn bó mật thiết
với các hộ nông dân cũng là các tổ chức kinh tế độc lập.
+ Hợp tác xã phát triển rất đa dạng về quy mô, trình độ tổ chức, chức
năng và phương hướng hoạt động. Trong đó hình thức phổ biến là hợp tác xã
đảm nhận cung cấp cho các hộ nông dân các dịch vụ đầu vào và đầu ra của quá
trình sản xuất - chế biến - tiêu thụ, trước hết là các khâu dịch vụ xa quá trình
trình sinh học của sản xuất nông nghiệp.
+ Hợp tác xã được thành lập và hoạt động về nguyên tắc không phụ thuộc
vào địa giới hành chính của các hộ nông dân tham gia hợp tác xã, mà phụ thuộc
vào đặc điểm của từng loại chức năng mà hợp tác xã hoạt động và trình độ kinh
doanh của hợp tác xã.
+ Mục đích hoạt động của hợp tác xã là phục vụ lợi ích thiết thân của hộ
nông dân. Song là chủ thể kinh doanh trong cả thị trường, hợp tác xã phải thích
ứng với điều kiện của nền kinh tế thị trường, phải chấp nhận cạnh tranh, nghĩa là
kinh doanh là phương thức để tồn tại, phát triển và qua đó mà đánh giá hiệu quả
hoạt động của hợp tác xã.
+ Hợp tác xã là tổ chức tự quản, tự chịu trách nhiệm, hoạt động theo pháp
luật và điều lệ của hợp tác xã, không chịu sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước
vào hoạt động kinh doanh.
- Ba là, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước, các ngành, các cấp
trong việc phát triển các hình thức kinh tế hợp tác và hợp tác xã.
+ Tập trung chỉ đạo việc chuyển đổi các hợp tác xã theo luật (hợp tác xã
kiểu cũ). Cần tránh tình trạng chuyển đổi hình thức, chưa có sự chuyển biến rõ
rệt về nội dung và phương thức hoạt động. Đối với những hợp tác xã yếu kém,
tồn tại hình thức đã có nhiều biện pháp hỗ trợ nhưng không khắc phục được, xã
viên có nguyện vọng thì xem xét cụ thể từng trường hợp, có thể cho giải thể và
hướng dẫn, giúp đỡ nông dân hình thành các hình thức kinh tế mới phù hợp.
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 108
+ Cần tạo điều kiện thuận lợi và giúp các hợp tác xã mới chuyển đổi và
hợp tác xã mới thành lập hoạt động hiệu quả như: giúp các hợp tác xã đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ quản lý, kỹ thuật, kinh doanh, tạo điều kiện cho các hợp tác xã
vay vốn, xử lý dứt điểm công nợ của hợp tác xã (nợ ngân hàng, nợ thuế, nợ các
doanh nghiệp nhà nước ...). Đối với hợp tác xã làm dịch vụ cho kinh tế hộ cần
miễn thuế, miễn tiền thuê đất làm trụ sở ... Các tổ chức nhà nước cần tăng cường
cung cấp đầy đủ, kịp thời các loại thông tin có liên quan đến hoạt động của hợp
tác xã như thông tin về thị trường, giá cả, khoa học, công nghệ; thông tin về
chính sách, pháp luật ...
- Tăng cường hệ thống tổ chức quản lý nhà nước đối với hợp tác xã từ
Trung ương tới địa phương (tới huyện) để hướng dẫn, giúp đỡ các hợp tác xã
hoạt động nhất là hoạt động phục vụ cho hộ nông dân. Hệ thống tổ chức quản lý
nhà nước cần coi hợp tác xã là khâu trung gian, cầu nối để đưa các chính sách và
giải pháp của Nhà nước đến với nông dân. Thực tế hiện nay, nhiều chính sách và
giải pháp ưu đãi, giúp đỡ của Nhà nước đối với nông dân không đến được từng
hộ nông dân mà chỉ đến các tổ chức trung gian (tư thương hoặc các tổ chức
không phải của nông dân). Về nguyên tắc Nhà nước cần tăng cường giúp đỡ trực
tiếp đến từng hộ nông dân, không nên qua các trung gian. Nhưng do số lượng hộ
lớn, lại sống phân tán nên sự giúp đỡ trực tiếp của Nhà nước nhiều khi rất khó
khăn và tốn kém. Vì vậy nếu các hợp tác xã thực sự là tổ chức kinh tế tự nguyện
của các hộ nông dân tự chủ, tự quản sẽ có tác dụng rất lớn trong việc thực hiện
các biện pháp giúp đỡ của Nhà nước đối với nông dân.
Tăng cường hệ thống tổ chức quản lý của Nhà nước đối với hợp tác xã
không có nghĩa là các tổ chức Nhà nước can thiệp trực tiếp vào hoạt động của
các hợp tác xã mà là hướng dẫn, giám sát hoạt động của hợp tác xã theo đúng
chính sách và luật pháp.
- Doanh nghiệp Nhà nước
Đây là hình thức tổ chức sản xuất do Nhà nước trực tiếp đầu tư xây dựng
và hoạt động theo định hướng của Nhà nước.
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 109
Doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế nói chung và
trong nông nghiệp nói riêng.
Doanh nghiệp nhà nước trong nông nghiệp hoạt động ở hai lĩnh vực: sản
xuất (các nông, lâm trường, trạm trại0 và dịch vụ (thuỷ nông, giống, bảo vệ thực
vật, thú y, vật tư ...).
Phát triển doanh nghiệp nhà nước trong nông nghiệp có vai trò quan trọng
đối với sự phát triển nông nghiệp hàng hoá hiện đại, nhất là trong việc xây dựng
cơ sở hạ tầng, hướng dẫn kỹ thuật, cung ứng vật tư chế biến và tiêu thụ sản
phẩm cho các hộ gia đình và các tổ chức sản xuất khác.
Trước đây, do quan niệm chỉ có kinh tế quốc doanh mới triệt để xã hội
chủ nghĩa, mới có điều kiện sản xuất có hiệu quả, nên đã có chủ trương xây
dựng hàng hoạt các nông trường quốc doanh, các trạm cơ khí nông nghiệp và
sửa chữa, các trạm, trại sản xuất và các cơ sở dịch vụ kỹ thuật khác nhất là phát
triển các nông trường quốc doanh. Nhưng do mô hình tổ chức không phù hợp
với đặc điểm sản xuất nông nghiệp, do cơ chế quản lý, do trình độ tổ chức quản
lý còn thấp nên hầu hết các cơ sở quốc doanh nông nghiệp đều làm ăn thua lỗ,
không tương xứng với sự đầu tư của Nhà nước.
Bước sang thời kỳ đổi mới, cùng với sự đổi mới nói chung của nền kinh
tế, các doanh nghiệp nhà nước trong nông nghiệp đã có những đổi mới căn bản
từ khâu quản lý nhà nước đến tổ chức quản lý nội bộ các doanh nghiệp. Nhiều
doanh nghiệp đã phát huy được vai trò làm trung tâm thúc đẩy phát triển kinh tế
xã hội trên địa bàn, dẫn dắt các thành phần kinh tế khác cùng phát triển, đặc biệt
là thúc đẩy kinh tế hộ phát triển sản xuất hàng hoá.
Tuy nhiên, quá trình đổi mới các doanh nghiệp nhà nước nói chung và
doanh nghiệp trong nông nghiệp nói riêng là quá trình đầy khó khăn và phức
tạp. Vì vậy về quan điểm định hướng, một mặt vẫn tiếp tục khẳng định vị trí
then chốt, vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước; mặt khác cũng phải thấy
rằng doanh nghiệp nhà nước trong nông nghiệp cần tập trung phát triển ở những
ngành, lĩnh vực then chốt, trọng yếu, có ý nghĩa chi phối đến sự phát triển toàn
ngành, những lĩnh vực đòi hỏi vốn đầu tư lớn, kỹ thuật phức tạp như: nghiên cứu
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 110
sản xấut giống mới, bảo vệ thực vật, thuỷ lợi ... hoặc những ngành hiệu quả thấp
nhưng có ý nghĩa quan trọng về kinh tế, xã hội. Như vậy, phạm vi hoạt động của
doanh nghiệp nhà nước phải thu hẹp dần. Những lĩnh vực nào Nhà nước không
cần nắm giữ mà các thành phần kinh tế khác có khả năng làm và làm hiệu quả
hơn thì không nhất thiết phải tồn tại doanh nghiệp nhà nước.
Để thực hiện được quan điểm định hướng trên và phù hợp với xu hướng
đổi mới nền kinh tế cần đổi mới triệt để doanh nghiệp nhà nước trong nông
nghiệp. Do doanh nghiệp nhà nước trong nông nghiệp hoạt độn ở nhiều lĩnh vực
khác nhau nên cách thức đổi mới cũng khác nhau.
- Đối với doanh nghiệp nhà nước sản xuất (chủ yếu là các nông trường
quốc doanh, lâm trường quốc doanh), đổi mới mạnh mẽ theo hướng giao đất ổn
định lâu dài cho các hộ gia đình để họ tự chủ sản xuất, kinh doanh theo mô hình
trang trại. Nông trường chỉ quản lý tập trung một diện tích vừa đủ để triển khai
các hoạt động nghiên cứu khoa học (sản xuất giống, quy trình canh tác mới ...)
để phục vụ cho kinh tế hộ. Trên cơ sở đó nông trường cần chuyển hẳn hướng
hoạt động sang làm dịch vụ (cả đầu vào và đầu ra) cho các hộ gia đình (kể cả
các hộ gia đình nông dân trên địa bàn).
Theo hướng đổi mới này, nông trường tập trung đầu tư xây dựng kết cấu
hạ tầng, xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp phù hợp với điều kiện tự nhiên
và nhu cầu thị trường; quản lý kinh doanh dịch vụ, tổ chức liên kết với các thành
phần kinh tế khác để chế biến và tiêu thụ nông sản (cả xuất khẩu). Nông trường
còn phải liên kết với các cơ quan khoa học để đưa tiến bộ khoa học - công nghệ
vào nông trường cũng như vào các hộ gia đình. Nông trường có thể trở thành
trung tâm sản xuất giống cung cấp cho các hộ gia đình (kể cả nông dân trong
vùng), làm cầu nối giữa cơ quan khoa học và nông dân.
Đối với các nông - lâm trường có cơ sở chế biến cần tiến hành cổ phần
hoá tạo điều kiện thuận lợi cho đông đảo người lao động tham gia mua cổ phiếu
và tham gia quản lý doanh nghiệp (kể cả các hộ gia đình trồng nguyên liệu). Cổ
phần hoá các cơ sở chế biến sẽ tạo được mối liên kết chặt chẽ, sẽ tạo ra sự cộng
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 111
đồng lợi ích và cộng đồng trách nhiệm của những người trồng nguyên liệu và cơ
sở chế biến, tiêu thụ sản phẩm cuối cùng.
Đối với các nông - lâm trường hoạt động kém hiệu quả, không có khả
năng chuyển hướng hoạt động cần tiến hành giải thể, giao đất lại cho các địa
phương để giao cho các hộ gia đình nông dân (kể cả các hộ gia đình từ các vùng
khác chuyển đến).
Nhà nước cần tiến hành giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
lâu dài cho các hộ gia đình (cả hộ gia đình công nhân) theo đúng quy định của
luật đất đai.
- Các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ cần sắp
xếp lại tổ chức, đổi mới phương thức hoạt động theo hướng gắn với kết quả sản
xuất cuối cùng của từng hộ gia đình nông dân, tạo ra mối liên kết chặt chẽ giữa
các doanh nghiệp nhà nước và hộ nông dân ngay trên từng địa bàn nông thôn.
Quan hệ liên kết giữa các doanh nghiệp nhà nước làm dịch vụ với các hộ nông
dân phải được thực hiện thông qua hợp đồng kinh tế. Cần đề cao trách nhiệm
của các doanh nghiệp nhà nước làm dịch vụ với từng hộ nông dân.
5.3.3. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Khái niệm: Công nghiệp hoá và hiện đại hoá là phương hướng chủ đạo
của các nước đang phát triển. Đây là con đường chung mà tất cả các nước trên
thế giới đều phải trải qua.
Đối với nước ta mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá là: xây dựng cơ
sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ,
phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất, tinh
thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc. Từ nay đến năm 2020 đưa nước ta trở
thành một nước công nghiệp. Trong quá trình vươn tới mục tiêu đó, nội dung cơ
bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đặc biệt coi trọng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,
nông thôn được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong tiến trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 112
Công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn là việc đưa máy móc, thiết bị
ứng dụng phương pháp sản xuất và các hình thức tổ chức sản xuất kiểu công
nghiệp vào các lĩnh vực của sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Công
nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn còn bao trùm cả việc tạo ra sự gắn bó giữa
sản xuất công nghiệp với sản xuất nông nghiệp cũng như toàn bộ các hoạt động,
các lĩnh vực sản xuất - dịch vụ và đời sống văn hoá tinh thần ở nông thôn.
Hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là quá trình nâng cao trình độ khoa
học công nghệ vào sản xuất và đời sống ở nông thôn, tạo ra nền sản xuất trình
độ ngày càng cao, cuộc sống ngày càng văn minh, tiến bộ. Hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn không chỉ bao gồm công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao
trình độ khoa học công nghệ và tổ chức sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông
thôn mà còn bao gồm cả việc không ngừng nâng cao đời sống văn hoá - tinh
thần, phát triển hệ thống hạ tầng xã hội, hệ thống giáo dục đào tạo, y tế và các
dịch vụ đời sống khác ở nông thôn. Về bản chất, hiện đại hoá là quá trình phát
triển toàn diện có kế thừa ở nông thôn. Hiện đại hoá không có nghĩa là đưa toàn
bộ công nghệ tiên tiến, hiện đại vào nông nghiệp, nông thôn ngay một lúc, mà
phải biết tận dụng, cải tiến, hoàn thiện, từng bước nâng cao trình độ khoa học và
công nghệ, trình độ tổ chức, quản lý nền sản xuất và đời sống xã hội ở nông thôn
ngang tầm trình độ thế giới.
Ý nghĩa của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một
tất yếu và là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của tiến trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước. Thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông
thôn mới giải quyết được các vấn đề:
- Một là, thúc đẩy quá trình phân công lao động trong nông nghiệp, nông
thôn.
Theo xu hướng phát triển có tính quy luật là lao động nông nghiệp ngày
càng giảm xuống cả về tương đối và tuyệt đối. Đối với những nước có nền kinh
tế phát triển (đã công nghiệp hoá) thì lao động nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 3-
4% tổng số lao động xã hội. Vì vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào chuyển được
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 113
một số lao động nông nghiệp sang phát triển công nghiệp và dich vụ. Có nhiều
con đường khác nhau, song con đường cơ bản, lâu dài là thực hiện chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng chuyển từ nghề nông sang phát triển công
nghiệp và dịch vụ ngay trên từng vùng nông thôn (theo phương châm "ly nông
bất ly hương", "nhập xưởng bất nhập đo"). Muốn tạo ra sự phân công lại lao
động trong nông nghiệp nông thôn phải tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, một mặt là cơ sở
để rút lao động từ nghề nông sang phát triển những ngành nghề phi nông nghiệp,
mặt khác nhờ công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì các ngành phi nông nghiệp nhất
là các ngành công nghiệp chế biến, các ngành TTCN, dịch vụ phát triển có hiệu
quả mới có điều kiện thu hút lao động từ nông nghiệp nông thôn.
- Hai là, tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghiệp
và dịch vụ cũng như sản phẩm của bản thân nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi sản phẩm của các doanh nghiệp
nước ta đang gặp phải sự cạnh tranh rất gay gắt trên thị trường quốc tế. Hiện nay
cũng như sau này, thị trường nông thôn là thị trường rộng lớn và có nhiều tiềm
năng. Tuy nhiên, do tình trạng sản xuất nhỏ, lạc hậu, thu nhập của người nông
dân còn thấp nên sức mua của thị trường nông thôn nước ta còn thấp, thị trường
nông thôn còn nhỏ hẹp. Muốn tăng sức mua từ thị trường nông thôn thì con
đường cơ bản, lâu dài là phải chuyển mạnh nông nghiệp và kinh tế nông thôn
sang phát triển sản xuất hàng hoá. Muốn chuyển nông nghiệp, nông thôn sang
phát triển sản xuất hàng hoá thì vấn đề có tính quyết định là phải thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Ba là, giải quyết tốt các vấn đề kinh tế xã hội ở nông thôn, nhất là vấn đề
việc làm, khai thác có hiệu quả các nguồn lực ở mỗi vùng, địa phương. Khắc
phục sự chênh lệch về thu nhập giữa các vùng, các dân tộc, xoá đói giảm nghèo
ở nông thôn.
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn sẽ tạo ra được
nhiều việc làm mới nhờ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn sang
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 114
phát triển sản xuất hàng hoá, khai thác những lợi thế so sánh của từng vùng địa
phương, đặc biệt là phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ.
Khi nông nghiệp, nông thôn chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng xoá
bỏ tính thuần nông, phát triển đa dạng các ngành nghề chế biến, TTCN, dịch vụ,
thì các tiềm năng về tài nguyên, lao động, vốn, kinh nghiệm sản xuất sẽ được
khai thác triệt để, có hiệu quả. Nếu công nghiệp và dịch vụ nông thôn phát triển
thì các nông lâm, thuỷ sản sẽ trở thành hàng hoá có giá trị, các phụ phế phẩm sẽ
trở thành nguyên liệu cho nhiều ngành sản xuất và dịch vụ (phụ phế phẩm của
ngành trồng trọt trở thành nguyên liệu để sản xuất phân bón hữu cơ, trồng nấm
xuất khẩu); phụ phế phẩm chăn nuôi có thể dùng làm thức ăn nuôi cá hoặc làm
biogas để cung cấp chất đốt ...). Khi công nghiệp, dịch vụ nông thôn phát triển
sẽ làm cho nông thôn phát triển toàn diện cả về kinh tế văn hoá, xã hội và đời
sống của cư dân nông thôn sẽ tăng lên, khoảng cách giữa nông thôn và thành thị
sẽ giảm xuống.
Đặc điểm của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là con đường tất
yếu nhằm mục tiêu cải biến nước ta thành một nước công nghiệp. Song con
đường thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn không
thể giống như công nghiệp hoá, hiện đại hoá đô thị. Việc nghiên cứu nắm các
đặc điểm của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn có ý nghĩa
quan trọng trong việc xác định bước đi, nội dung, giải pháp cho quá trình thực
hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn nước ta. Đặc điểm
của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn gắn liền với những
đặc điểm nông nghiệp, nông thôn nước ta. Những đặc điểm đó là:
- Thứ nhất, chủ thể của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp nông thôn là những hộ gia đình nông dân đang sống ở vùng nông thôn.
Như vậy, chủ thể của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp nông thôn nước ta là những nông dân có trình độ dân trí thấp lại nghèo;
khả năng đóng góp cả về trí tuệ và vốn còn gặp rất nhiều khó khăn. Từ đó đòi
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 115
hỏi phải có chính sách và giải pháp để giúp các hộ gia đình có khả năng tiếp thu
và thực hiện công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn.
- Thứ hai, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn được
tiến hành trên một địa bàn rộng lớn, không tập trung như công nghiệp. Có thể
nói trên khắp các vùng lãnh thổ của đất nước ta, từ các tỉnh đồng bằng đến các
tỉnh trung du, ven biển, ở đâu cũng có hoạt động sản xuất nông nghiệp và kinh tế
nông thôn. Mỗi vùng khác nhau có những đặc điểm rất khác biệt về tự nhiên,
kinh tế, xã hội, lịch sử truyền thống, ngành nghề sản xuất nên không thể có mô
hình công nghiệp hoá, hiện đại hoá chung cho tất cả các vùng, địa phương được.
Mỗi vùng địa phương, trên cơ sở điều kiện cụ thể của mình mà xác định nội
dung, phương thức tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông
thôn phù hợp. Mặt khác, để tạo điều kiện cho các vùng địa phương tiến hành
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, Nhà nước cũng như các
ngành chức năng, nhất là công nghiệp, các viện nghiên cứu cần trên cơ sở nhu
cầu và điều kiện cụ thể của từng vùng để nghiên cứu sản xuất ra những máy
móc, thiết bị các giống cây, con phù hợp (phù hợp điều kiện tự nhiên - đất đai,
địa hình, khí hậu; phù hợp với cây trồng vật nuôi và các ngành nghề).
- Thứ ba, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn tiến hành
trong điều kiện đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý của hệ thống chính trị cơ sở
còn thấp. Có thể nói đa phần cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị cơ sở là
những cán bộ không chuyên nghiệp, ít được đào tạo, là cấp có trình độ văn hoá,
trình độ lý luận và chuyên môn thấp nhất (thậm chí có cán bộ còn mù chữ hoặc
mới thoát mù chữ). Với đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị cơ sở còn
yếu như vậy nên việc nhận thức về chủ trương, đường lối công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp nông thôn sẽ rất khó khăn, chưa nói đến việc biến chủ
trương, đường lối thành kế hoạch hành động cụ thể. Kinh nghiệm thực tế cho
hay, ở đâu các cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị cơ sở có năng lực thì ở đó
chủ trương về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn được thực
thi có hiệu quả, ngược lại ở đâu cán bộ chủ chốt yếu kém thì chủ trương về công
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 116
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn không được thực thi đầy đủ,
nông nghiệp nông thôn về cơ bản vẫn là sản xuất nhỏ, lạc hậu.
- Thứ tư, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn thì đòi hỏi
phải đầu tư tốn kém và rủi ro cao, do sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào thiên
nhiên và quy luật cung cầu về nông sản trên thị trường. Đối với nước ta, điều
kiện tự nhiên rất phức tạp, ảnh hởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp (lũ lụt,
hạn hán, rét, bão ...). Để hạn chế những tác hại do tự nhiên gây ra đối với sản
xuất nông nghiệp đòi hỏi phải đầu tư rất lớn (xây dựng hệ thống đê sông, đê
biển, hệ thống công trình thuỷ lợi ...), thời hạn thu hồi vốn lâu, có công trình rất
khó có khả năng thu hồi. Đặc điểm này, đòi hỏi phải có sự quan tâm đầu tư rất
lớn của nhà nước thì các vùng nông thôn mới có điều kiện thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Nội dung công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Qua tổng kết thực tiễn của nước ta cũng như nghiên cứu kinh nghiệm của
các nước, có thể hiểu nội dung tổng quát về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn là:
+ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng hàng hoá quy mô lớn gắn với công nghiệp chế biến và
thị trường, đưa công nghiệp hiện đại vào tất cả các khâu của sản xuất nông
nghiệp; thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, ứng dụng các thành tựu
khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin nhằm
nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của hàng hoá nông sản.
+ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng các ngành công nghiệp,
dịch vụ, tổ chức lại sản xuất, xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp, quy hoạch
phát triển nông thôn, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội và đô thị hoá nông
thôn, ưu tiên giải quyết việc làm, xây dựng nông thôn văn minh.
Từ nội dung tổng quát đó, có thể cụ thể hoá nội dung của công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn nước ta như sau:
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 117
Một là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng
sản xuất hàng hoá đa dạng, hình thành các vùng sản xuất tập trung, chuyên canh
phù hợp với lợi thế của từng vùng, địa phương, gắn với công nghiệp chế biến và
từng bước được hiện đại hoá.
Trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của từng vùng địa phương
cần dựa vào lợi thế so sánh để xác định những sản phẩm mũi nhọn, có giá trị
tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp gắn với khai thác lợi thế so sánh của từng vùng, địa phương cần
hình thành các vùng sản xuất tập trung (vùng sản xuất lúa gạo, chè, cà phê ...)
với quy mô hợp lý. Việc hình thành các vùng sản xuất hàng hoá nông sản tập
trung cần có sự liên kết chặt chẽ từ các khâu trước sản xuất, trong sản xuất và
sau sản xuất, giữa sản xuất - chế biến và tiêu thụ, đảm bảo sự thông thoáng từ
sản xuất của nông dân đến thị trường tiêu thụ.
Trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế cần phát triển nhanh công nghiệp và
dịch vụ ở nông thôn, nhất là công nghiệp chế biến, các ngành nghề phi nông
nghiệp phù hợp từng vùng, địa phương.
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn phải gắn với việc
nâng cao chất lượng, giá trị và khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và
quốc tế.
Hai là, phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn bao
gồm các nội dung cụ thể như: xây dựng cơ sở hạ tầng cho phát triển nông nghiệp
nông thôn, ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ vào phát triển nông
nghiệp và kinh tế nông thôn, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn lao động phù
hợp yêu cầu phát triển nông nghiệp nông thôn sản xuất hàng hoá.
Trong phát triển cơ sở hạ tầng, nội dung cần ưu tiên là đầu tư xây dựng hệ
thống thuỷ lợi theo hướng sử dụng tổng hợp tài nguyên nước (kết hợp phục vụ
sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai).
Phát triển nhanh hệ thống giao thông nông thôn đảm bảo giao lưu hàng hoá và đi
lại cho nhân dân. Phát triển hệ thống điện nông thôn, đảm bảo cung cấp điện có
chất lượng cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt ở nông thôn. Đối với những vùng
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 118
không có lưới điện quốc gia, Nhà nước cần hỗ trợ phát triển các nguồn điện
năng tại chỗ. Đối với hạ tầng viễn thông và các điểm văn hoá, từng bước ứng
dụng công nghệ thông tin trong nông nghiệp, nông thôn.
Đối với việc ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ: Đây là khâu
đột phá quan trọng nhất để thúc đẩy phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong ứng dụng các thành tựu khoa
học và công nghệ, nội dung cần đặc biệt ưu tiên là:
- Đầu tư cho nghiên cứu tạo giống mới cho sản xuất nông nghiệp, nhất là
giống cây, con chủ lực cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu như: lúa gạo, ngô,
cà phê, chè, mía, cây ăn trái ...; các giống gia súc, gia cầm, thuỷ sản ... Giống
mới phải đạt các tiêu chuẩn về năng suất, chất lượng, giá thành, phù hợp với thị
hiếu tiêu dùng của khách hàng và phải phù hợp với từng vùng sinh thái. Nói
cách khác, giống mới phải tạo ra sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao trên thị
trường (cả nội địa và quốc tế).
Đầu tư cho nghiên cứu tạo giống mới không chỉ là kỹ thuật lai tạo, chọn
lọc, thuần chủng mà tiến tới tạo giống bằng những công nghệ tiên tiến như công
nghệ tế bào, công nghệ gen, phương pháp gây đột biến ...
- Đầu tư cho nghiên cứu công nghệ sau thu hoạch, đặc biệt là công nghệ
chế biến, bảo quản nông sản. Chất lượng sản phẩm cuối cùng hay thấp cũngphụ
thuộc vào khâu này. Thực tiễn phát triển nông nghiệp đang đặt ra nhiều vấn đề
bức bách đòi hỏi phải chú trọng đầu tư cho công nghệ chế biến, bảo quản nông
sản.
Trong những năm tới cần quan tâm đầu tư cho việc nghiên cứu công nghệ
chế biến, bảo quản phù hợp điều kiện nước ta (khí hậu, thời tiết và các loại nông
sản). Tiêu chuẩn của công nghệ chế biến, bảo quản là chất lượng sản phẩm cao,
giá thành hạ, đáp ứng được nhu cầu thị trường, nhất là xuất khẩu. Trong nghiên
cứu công nghệ chế biến, bảo quản không chỉ chú trọng công nghệ hiện đại, quy
mô lớn, tập trung mà còn phải nghiên cứu công nghệ chế biến, bảo quản ở quy
mô gia đình hay cụm dân cư, nhất là sơ chế: phơi, sấy lúa, ngô, chè ...
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 119
- Đầu tư nghiên cứu, sản xuất các loại máy móc thiết bị phục vụ nông
nghiệp, nông dân để nâng cao trình độ cơ giới hoá nông nghiệp.
Nghiên cứu máy móc, thiết bị phục vụ nông nghiệp phải phù hợp điều
kiện sản xuất từng vùng (đất đai, địa hình, cây trồng, vật nuôi ...) cũng như nhu
cầu của người sản xuất (chủ yếu là nông dân), đảm bảo hiệu quả sử dụng cao,
phù hợp với khả năng sử dụng và mua sắm của họ.
Ngoài ra, cần quan tâm đầu tư nghiên cứu và đưa vào sử dụng công nghệ
tưới tiêu, công nghệ hoá học và các khâu kỹ thuật canh tác, kỹ thuật chăn nuôi
sạch (phát triển nền nông nghiệp sạch).
Muốn đưa các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp
phải có hệ thống tổ chức để chuyển giao công nghệ. Hệ thống tổ chức để chuyển
giao tiến bộ khoa học và công nghệ vào nông nghiệp bao gồm các tổ chức của
Nhà nước theo từng chuyên ngành (giống, bảo vệ thực vật, thú y ...) và các tổ
chức phi nhà nước (các hiệp hội nông nghiệp, các tổ chức xã hội ...) hoặc thông
qua các công ty theo ngành (chè, cà phê, mía đường ...), hoặc có thể thông qua
các hợp tác xã dịch vụ, các nông trường quốc doanh ...
Về nguyên tắc, hệ thống chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ phải
có sự thống nhất từ trung ương đến địa bàn (thôn, xã), phải kiểm soát được các
tiến bộ khoa học và công nghệ đưa vào sản xuất ... Các tổ chức chuyển giao tiến
bộ khoa học và công nghệ phải chịu trách nhiệm đến kết quả cuối cùng của sản
xuất nông nghiệp trong từng hộ gia đình, từng trang trại. Về phía Nhà nước phải
kiểm tra, giám sát được các tiến bộ khoa học và công nghệ đưa vào sản xuất để
tránh tình trạng đưa công nghệ lạc hậu, công nghệ kém chất lượng vào nông
nghiệp và xử lý nghiêm các trường hợp gian dối trong quá trình chuyển giao tiến
bộ khoa học và công nghệ vào nông nghiệp.
Đối với đào tạo nâng cao chất lượng nguồn lao động, cần quan tâm đào
tạo những ngành, nghề mà nông dân từng vùng, địa phương có nhu cầu, phục vụ
có hiệu quả quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn. Cần có
chính sách để khuyến khích lao động có đào tạo, nhất là sinh viên tốt nghiệp các
trường Đại học, Cao đẳng về công tác tại các vùng nông thôn.
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 120
- Ba là, xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp.
Xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp ở vùng nông thôn phải trên tinh thần
mọi thành phần kinh tế đều có vai trò quan trọng và đều được khuyến khích phát
triển. Trong đó, cần quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi để kinh tế hộ phát
triển sản xuất hàng hoá với quy mô ngày càng lớn và phát triển kinh tế trang trại.
Khuyến khích và tạo điều kiện cho sự phát triển các hình thức hợp tác và hợp tác
xã, các hiệp hội nghề nghiệp của nông dân. Doanh nghiệp nhà nước cần tập
trung thực hiện những việc mà các thành phần kinh tế khác chưa làm được. Đổi
mới, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước trong nông nghiệp cần gắn với sản xuất
kinh doanh của các hộ gia đình nông dân, lấy các hộ gia đình làm trung tâm để
đổi mới phương thức và nội dung hoạt động. Cần tăng cường quan hệ liên kết
giữa các thành phần kinh tế, bao gồm cả hệ thống liên kết ngang và liên kết dọc
gắn với quá trình tái sản xuất từ sản xuất nông sản đến chế biến và tiêu thụ sản
phẩm.
- Bốn là, phát triển công nghiệp và dịch vụ nông thôn.
Phát triển công nghiệp và dịch vụ nông thôn là lối thoát cơ bản của nền
nông nghiệp hiện đại hoá, là hướng chủ yếu, lâu dài để tạo việc làm, tăng thu
nhập cho nông dân, từng bước công nghiệp hoá, đô thị hoá nông thôn, rút ngắn
khoảng cách giữa nông thôn và thành thị.
5.3.4. Đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp
Đây là giải pháp có vị trí quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến sự
thành bại của sản xuất nông nghiệp hàng hoá.
Muốn đẩy mạnh công tác tiêu thụ nông sản đòi hỏi phải giải quyết hàng
loạt các vấn đề có liên quan cả ở tầm vĩ mô (nhà nước) và ở tầm vi mô (các cơ
sở sản xuất).
Về phía nhà nước (trực tiếp là ngành nông nghiệp) cần có định hướng sản
xuất cớ cơ sở khoa học - sản xuất những nông sản mà thị trường cần, quy mô
sản xuất của từng loại nông sản. Muốn vậy nhà nước phải đẩy mạnh công tác
nghiên cứu, dự báo thị trường, cung cấp kịp thời các thông tin về thị trường, gia
cả các loại nông sản mà nước ta sản xuất và xuất khẩu. Mặt khác, nhà nước
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 121
(ngành thương mại) cần xúc tiến tìm kiếm thị trường, nhất là thị trường nước
ngoài để tiêu thụ những nông sản mà nước ta sản xuất được.
Đẩy mạnh công tác tiêu thụ nông sản không chỉ là tìm cách bán những
nông sản ta có, mà còn phải quan tâm sản xuất ra những nông sản đáp ứng nhiều
loại thị trường khác nhau trong nước và trên thế giới. Do đó giải pháp đẩy mạnh
tiêu thụ nông sản phải gắn với các vấn đề quy hoạch sản xuất, nghiên cứu tạo
giống mới, công nghệ chế biến, bảo quản; công nghệ sản xuất các nông sản
sạch... và hàng loạt các chính sách và giải phát có liên quan khác (thuế, tín dụng,
bảo trợ...).
5.3.5. Đổi mới và hoàn thiện các chính sách kinh tế đối với nông
nghiệp, nông dân
Lịch sử phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta hàng chục năm qua đã
khẳng định vai trò quan trọng của các chính sách kinh tế của Nhà nước. Các
chính sách kinh tế hoặc có tác dụng thúc đẩy, hoặc kìm hãm sự phát triển của
nông nghiệp, nông thôn.
Về nguyên tắc, hệ thống chính sách kinh tế đối với nông nghiệp phải đảm
bảo tính đồng bộ, phù hợp với quá trình chuyển nền kinh tế nói chung, nông
nghiệp nói riêng sang phát triển sản xuất hàng hoá xuất khẩu, theo hướng hội
nhập kinh tế quốc tế. Hệ thống chính sách phải phù hợp đặc điểm sản xuất nông
nghiệp nói chung và nông nghiệp, nông thôn nước ta nói riêng và chính sách
kinh tế theo cơ chế thị trường phải gắn với chính sách xã hội nông thôn.
Để tạo môi trường và kích thích nông nghiệp chuyển mạnh sang sản xuất
hàng hoá, trong điều kiện nước ta hiện nay cần quan tâm đổi mới và hoàn thiện
một hệ thống chính sách đồng bộ, như: chính sách đất đai, chính sách đầu tư,
tính dụng, thuế, thị trường và giá cả, chính sách bảo trợ sản xuất nông nghiệp,
khuyến nông, chính sách xã hội nông thôn và nhiều chính sách kinh tế - xã hội
có liên quan khác. Do thời gian có hạn nên môn học chỉ giới thiệu một số nội
dung cốt lõi của những chính sách cơ bản.
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 122
Chính sách đất đai
Do kiểu tổ chức sản xuất lấy hộ gia đình nông dân làm đơn vị kinh tế tự
chủ nên chính sách đất đai cần được tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện.
+ Trên cơ sở Luật đất đai mới sửa đổi cần nhanh chóng cấp giây chứng
nhận quyền sử dụng đất và thể chế hoá các quyền theo luật định.
+ Tiếp tục nghiên cứu, tổng kết những nội dung trong Luật đất đai mới
khi đi vào cuộc sống để có cơ sở khoa học vững chắc cho việc hoàn thiện Luật
đất đai. Trong đó cần quan tâm nghiên cứu, hoàn thiện như: thời hạn sử dụng
đất, thời hạn cho thuê, quy định mức hạn điền, thuế sử dụng đất nông nghiệp ...
+ Vấn đề tích tụ và tập trung đất đai vào những hộ có khả năng sản xuất
nông nghiệp phát triển theo hướng kinh tế trang trại với một bộ phận nông dân
mất đất trở thành lao động làm thuê.
+ Giải quyết vấn đề đất đai trong các nông, lâm trường quốc doanh: quyền
sử dụng đất đối với các hộ công nhân, xử lý đất đai đối với những cơ sở không
còn khả năng tồn tại.
+ Những vấn đề liên qua đến quy hoạch, sử dụng đất nông nghiệp để đảm
bảo thu nhập cao nhất trên một đơn vị diện tích, nhất là quy hoạch đất trông lua
với các loại cây, con khác.
Chính sách đầu tư vốn cho nông nghiệp
Tăng đầu tư vốn cho nông nghiệp, nông thôn là đòi hỏi cấp thiết hiện nay,
có ý nghĩa không chỉ đối với nông nghiệp, nông thôn cần quan tâm đến các vấn đề:
+ Tăng tỷ trọng vốn đầu tư của Nhà nước cho nông nghiệp tương xứng
với vị trí và những đóng góp của nó đối với nền kinh tế quốc dân. Phấn đấu nâng
tỷ trọng vốn đầu tư của ngân sách Nhà nước cho nông nghiệp lên 25 - 30%.
+ Vốn đầu tư của ngân sách Nhà nước cần tập trung vào các lĩnh vực: xây
dựng cơ sở hạ tầng (giao thông, điện, nước, thông tin, thuỷ lợi, trường học, trạm
xá...), phát triển công nghệ sau thu hoạch...
+ Thu hút các thành phần, các nhà đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.
+ Vấn để kết hợp Nhà nước và nhân dân cùng đầu tư, trong đó cần quy
định rõ Nhà nước làm gì? nhân dân làm gì? mức đóng góp cho từng công trình.
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 123
Chính sách tín dụng
Nhu cầu vốn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn ngày càng tăng, trong
khi vốn đầu tư của Nhà nước có hạn. Vì vậy, đổi mới, hoàn thiện chính sách tín
dụng đối với nông nghiệp là vấn đề cơ bản, có ý nghĩa lâu dài.
Trong điều kiện nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay, chính sách tín
dụng cần lưu ý các vấn đề sau:
+ Việc quy định thời hạn cho vay cần căn cứ vào chu kỳ sản xuất của từng
loại cây trồng, vật nuôi, các ngành nghề đầu tư. Theo xu hướng phát triển nông
nghiệp nước ta hiện nay, cần tăng cường cho vay trung và dài hạn. Cần có sự ưu
đãi về vốn vay và thời hạn cho vay để nông dân có điều kiện đầu tư sản xuất
hàng hoá quy mô lớn.
+ Về lãi suất cho vay cần có sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế,
thực hiện chính sách một giá trong lãi suất cho vay. Tuy nhiên, đối với những
vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa và đối với những hộ nghèo cần có chính sách
ưu đãi nhất định về lãi suất cho vay.
+ Cải tiến hồ sơ, thủ tục cho vay và tài sản thế chấp phù hợp với đối
tượng nông dân.
+ Mở rộng hình thức cho vay theo chương trình, dự án (xoá đói, giảm
nghèo; phủ xanh đất trống, đồi trọc; nước sạch nông thôn...), cho vay bằng hiện
vật (giữa các tổ chức kinh doanh nông sản, kinh doanh vật tư, máy móc nông
nghiệp...). Các tổ chức tín dụng cần chủ động cung cấp dịch vụ hỗ trợ như: tư
vấn kinh doanh, hướng dẫn kỹ thuật, giúp tìm kiếm thị trường tiêu thụ...
+ Nông nghiệp, nông thôn là khu vực đầu tư có nhiều rủi ro (do thiên tai,
do thị trường) ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các tổ chức tín dụng. Do vậy
cần thiết phải thành lập quỹ rủi ro tín dụng. Nguồn vốn để thành lập quỹ này lấy
từ lợi nhuận hàng năm của ngân hàng, trích từ ngân sách Nhà nước hàng năm và
tư người sản xuất đóng góp.
Chính sách thuế
Về nguyên tắc, chính sách thuế đối với sản xuất nông nghiệp và các hoạt
động kinh tế ở nông thôn phải có sự ưu đãi đặc biệt. Xu hương chung là:
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 124
+ Giảm mức thuế sử dụng đất nông nghiệp và tiến tới không đánh thuế
vào sản xuất nông nghiệp.
+ Thực hiện chính sách ưu đãi đối với các thành phần kinh tế đầu tư vào
phát triển nông nghiệp, nông thôn.
+ Cần có chính sách thuế phù hợp với từng loại hình hợp tác xã (hợp tác
xã hoạt động vì mục đích kinh doanh và hợp tác xã hoạt động vì mục đích dịch
vụ cho kinh tế hộ).
+ Nhà nước cần rà soát lại các khoản thu đối với nông nghiệp, nông thôn
(chủ yếu đối với nông dân) như: thuế, phí, lệ phí. Cần xoá bỏ những khoản thu
không phù hợp với pháp luật.
Chính sách khuyến nông
Ở nước ta khuyến nông có truyền thống lâu đời và được phát triển liên tục
trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Ngày nay,
khuyến nông là một chính sách của Nhà nước giúp đỡ nông dân phát triển sản
xuất, tăng thu nhập. Để thực hiện chính sách khuyến nông hiện nay cần quan
tâm phát triển cả hai hình thức: khuyến nông Nhà nước và khuyên nông tự
nguyện.
Chính sách khuyến nông cần đổi mới và hoàn thiện theo hướng:
+ Phát triển một nền nông nghiệp sinh thái bền vững.
+ Cần phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi tổ chức, mọi thành phần kinh
tế trong hoạt động khuyến nông với phương châm tất cả các hoạt động khuyến
nông đều tác động đến người lao động, đến hộ nông dân nhằm đem lại hiệu quả
cao nhất.
+ Cần sớm bổ sung và hoàn thiện các chính sách khuyến nông hay liên
quan đến khuyến nông như quảng cáo các tiến bộ khoa học - công nghệ, xử lý
các trường hợp đưa tiến bộ khoa học - công nghệ vào gây thiệt hạo cho nông
dân.
+ Cần cải tiến quy trình khuyến nông một cách hợp lý, có hiệu quả. Công
tác khuyến nông hiện nay là áp đặt từ trên xuống, từ trung ương về cơ sở.
Hướng cải tiến quá trình khuyến nông là phải xuất phát từ cơ sở nghĩa là phải
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 125
xem cơ sở sản xuất cái gì (cây, con gì), trình độ dân trí ra sao, các điều kiện về
cơ sở, hạ tầng, khả năng đầu tư ra sao, để từ đó tính toán cho nông dân nên sản
xuất cái gì, sản xuất theo cách nào cho hiệu quả.
+ Cần tạo điều kiện cho hoạt động khuyến nông đạt hiệu quả như đầu tư,
hiện đại hoá các cơ sở nghiên cứu, khảo nghiệm sản xuất giống mới, công nghệ
chế biến, bảo quản, về kỹ thuật canh tác... đảm bảo nguồn kinh phí cần thiết cho
công tác khuyến nông, quan tâm, đào tạo, sử dụng cán bộ - những người tham
gia công tác khuyến nông.
Chính sách bảo trợ sản xuất nông nghiệp
Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới (nhất là các nước có nền kinh
tế thị trường phát triển) đều thực hiện chính sách bảo trợ đối với sản xuất nông
nghiệp. Điểm khác nhau ở từng nước là phạm vi, mức độ, hình thức bảo trợ cho
người sản xuất nông nghiệp (hộ nông dân, các trang trại).
Đối với nước ta, chính sách bảo trợ đối với nông nghiệp càng trở nên cần
thiết, không chỉ do vai trò quan trọng của nông nghiệp, mà điều quan trọng là
khu vực nông nghiệp, do đặc điểm vốn có của nó nên cả tự nhiên và thị trường
đều có những tác động rất lớn và gây nhiều thiệt hại cho người sản xuất. Hơn
nữa, sản xuất nông nghiệp phân bố ở các vùng nông thôn rộng lớn, có nhiều khó
khăn về tự nhiên; kinh tế, xã hội, dân cư nông thôn lạc hậu và có đời sống khó
khăn hơn rất nhiều so với dân thành thị.
Nông nghiệp là khu vực sản xuất rộng lớn, có rất nhiều loại nông sản khác
nhau nên chính sách bảo trợ cần tập trung nhiều hơn cho các vùng khó khăn,
vùng sản xuất hàng hoá tập trung, quy mô lớn, nông sản thiết yếu cho nhu cầu
tiêu dùng và xuất khẩu như lúa, cà phê ...
Để tiến hành bảo trợ cho sản xuất nông nghiệp cần thông qua nhiều hình
thức, trong đó có những hình thức phải được thực hiện thông qua các chính sách
hoặc thông qua hệ thống giải pháp kinh tế vĩ mô. Chẳng hạn, Nhà nước có thể
thực hiện chính sách bảo trợ đối với nông nghiệp thông qua chính sách đầu tư,
tín dụng, thuế, giá mua nông sản, giá bán vật tư và dịch vụ, thông qua trợ cấp
xuất khẩu; hoặc Nhà nước có thể lập hệ thống kho dự trữ (không phải kho dự trữ
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 126
quốc gia). Hệ thống kho dự trữ có vai trò quan trọng trong việc điều hoà quan hệ
cung - cầu trên thị trường, tránh được những đột biết về giá bất lợi cho người
sản xuất (nhất là lúa, các nông sản có khối lượng thu hoạch theo mùa vụ lớn
như: cà phê, hoa quả ...)
Hệ thống kho dự trữ (bảo quản) có nhiệm vụ vào thời vụ thu hoạch mua
vào để dự trữ, bảo quản hoặc làm nhiệm vụ giữ hộ, bảo quản hộ nông sản cho
nông dân. Người có nông sản gửi vào kho dự trữ của Nhà nước sẽ được Nhà
nước cho vay số tiền tương ứng. Trong thời gian gửi nông sản vào kho dự trữ,
nông dân có quyền bán ra lúc nào có lợi. Hết thời hạn dự trữ, bảo quản nông sản,
nông dân phải hoàn trả vốn vay cộng với lãi suất trong thời gian nông sản lưu
kho.
Nhà nước còn có thể bảo trợ cho người sản xuất nông nghiệp trong trươờn
hợp bị thiên tai, mất mùa.
Trong quá trình phát triển nền nông nghiệp hàng hoá cần giải quyết mối
quan hệ giữa bảo hộ sản xuất trong nước với vấn đề thị trường hoá. Vì vậy, cơ
chế, chính sách của Nhà nước phải tiếp tục đổi mới để một mặt tạo điều kiện và
hỗ trợ nông nghiệp phát triển, mặt khác tạo cho nông nghiệp khả năng cạnh
tranh khi nước ta tham gia đầy đủ vào hội nhập kinh tế quốc tế.
Ngoài những chính sách kể trên, Nhà nước còn phải quan tâm, xây dựng
và hoàn thiện nhiều chính sách khác, như: chính sách thị trường, xuất, nhập
khẩu và các chính sách xã hội nông thôn, nhất là các chính sách về việc làm, xoá
đói giảm nghèo, giáo dục - đào tạo và các vấn đề xã hội khác.
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 127
Chương 6
CÔNG NGHIỆP VỚI TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
6.1. Đặc điểm của sản xuất công nghiệp
6.1.1. Khái niệm và phân loại sản xuất công nghiệp
Công nghiệp là ngành sản xuất vật chất to lớn và độc lập của nền kinh tế
quốc dân có chức năng khai thác các tài nguyên thiên nhiên, chế biến các tài
nguyên đó cũng như sản phẩm của nông - lâm - ngư nghiệp và sửa chữa các sản
phẩm công nghiệp có thời gian sử dụng lâu dài.
Hoạt động khai thác trong công nghiệp: là sự tác động của lao động nhằm
cắt đứt mối liên hệ giữa các tài nguyên với môi trường tự nhiên.
Hoạt động chế biến có đặc trưng cơ bản là làm thay đổi tính chất cơ lý
hoá hoặc mối quan hệ tương quan của các đối tượng chế biến nhằm tạo ra những
sản phẩm phù hợp với nhu cầu sản xuất và tiêu dùng.
Hoạt động sửa chữa bao gồm sửa chữa các tư liệu sản xuất là sản phẩm
công nghiệp (máy móc, thiết bị, dụng cụ sản xuất, phương tiện vận tải .v.v...) và
các tư liệu tiêu dùng (ô tô, xe máy, máy giặt, tủ lạnh .v.v.).
Hoạt động sản xuất công nghiệp có quy mô rất lớn và đa dạng, vì vậy, để
thuận tiện cho công tác quản lý người ta phải tiến hành phân loại theo những
tiêu thức khác nhau.
- Căn cứ vào đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của hoạt động sản xuất người ta
chia công nghiệp thành các ngành chuyên môn hoá (ngành cấp II), các ngành
chuyên môn hoá lại được chia thành các ngành chuyên môn hoá hẹp (ngành cấp
III) và cứ thế tiếp tục phân nhánh tuỳ thuộc vào mức độ phát triển của công
nghiệp.
Những đặc điểm kinh tế - kỹ thuật chủ yếu được sử dụng để phân loại
gồm: đặc điểm về công nghệ, về công dụng của sản phẩm, về nguyên liệu sử
dụng. Các doanh nghiệp được đưa vào cùng một ngành chuyên môn hoá hoặc
ngành chuyên môn hoá hẹp theo một hoặc một vài đặc điểm chung. Ví dụ: công
nghiệp chế biến gỗ có đặc điểm chung là cùng sử dụng đầu vào là gỗ, ngành cơ
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 128
khí nông nghiệp có đặc điểm chung về công dụng của sản phẩm là sử dụng trong
nông nghiệp, công nghiệp hoá chất thì có đặc trưng cơ bản là sự biến đổi hoá
hoọctrong quá trình chế biến.
Cách phân loại này có vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp bởi khi nói đến chuyển dịch cơ cấu kinh
tế trong công nghiệp thì chủ yếu và trước hết cũng là chuyển dịch cơ cấu ngành
công nghiệp (cơ cấu theo ngành).
- Căn cứ vào công dụng chung của sản phẩm công nghiệp thì công nghiệp
gồm 2 bộ phận: công nghiệp A và công nghiệp B.
Công nghiệp A là bộ phận công nghiệp sản xuất ra tư liệu sản xuất còn
công nghiệp B là bộ phận sản xuất ra tư liệu tiêu dùng. Khi phân loại theo tiêu
thức này, người ta căn cứ vào công dụng chủ yếu của sản phẩm, bởi lẽ rất nhiều
loại sản phẩm vừa được sử dụng như một tư liệu sản xuất nhưng cũng có thể
được sử dụng với tư cách là một tư liệu tiêu dùng. Ví dụ: điện năng là sản phẩm
công nghiệp A vì bộ phận chủ yếu được sử dụng trong sản xuất mặc dù có một
bộ phận được sử dụng trong tiêu dùng. Vải được xem là sản phẩm của công
nghiệp B mặc dù một bộ phận được sử dụng trong sản xuất.
Cách phân loại này rất quan trọng trong việc xác lập tương quan tỷ lệ giữa
2 nhóm ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, vì sự cân đối giữa
hai khu vực này vừa là cơ sở cho việc tái sản xuất xã hội, vừa đảm bảo nâng cao
hiệu quả của sản xuất công nghiệp.
- Căn cứ vào hình thức sở hữu có thể chia sản xuất công nghiệp thành ba
nhóm: công nghiệp quốc doanh, công nghiệp ngoài quốc doanh và công nghiệp
thuộc sở hữu tổng hợp.
Cách phân loại này cho thấy sự phân bố sản xuất công nghiệp theo lãnh
thổ làm cơ sở cho việc nghiên cứu những nhân tố dẫn tới sự phân bố không
đồng đều và đề ra chủ trương chính sách nhằm từng bước khắc phục sự mất cân
đối trong phát triển công nghiệp theo lãnh thổ.
Ngoài cách phân loại chủ yếu trên, tuỳ theo yêu cầu cụ thể người ta có thể
áp dụng nhiều cách phân loại khác nữa như phân loại theo mối quan hệ trực
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 129
thuộc (chia thành công nghiệp trung ương và công nghiệp địa phương), phân
loại theo trình độ kỹ thuật - công nghệ (chia thành công nghiệp hiện đại và tiểu
thủ công nghiệp), theo quy mô (chia thành quy mô lớn, vừa và nhỏ). Mỗi cách
phân loại sẽ dẫn đến một cơ cấu kinh tế tương ứng và có những tác dụng tương
ứng đối với việc nghiên cứu động thái phát triển của sản xuất công nghiệp.
6.1.2. Những đặc điểm của sản xuất công nghiệp
Nguyên lý chủ thể quản lý phải phù hợp với đối tượng quản lý đòi hỏi
phải nghiên cứu và nắm vững các đặc điểm cơ bản của sản xuất công nghiệp
nhằm phát huy tối đa các tác động quản lý đối với sự phát triển của công nghiệp
nói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng.
Sản xuất công nghiệp có nhiều đặc điểm khác biệt hoàn toàn với các
ngành sản xuất khác như nông nghiệp, xây dựng cơ bản và dịch vụ, cụ thể:
6.1.2.1. Quá trình sản xuất công nghiệp có thể chia ra làm nhiều công
đoạn khác nhau, mỗi công đoạn có thể do một bộ phận trong hệ thống dây
chuyền sản xuất hoặc do một bộ phận độc lập thực hiện.
- Đối với những sản phẩm đòi hỏi phải sản xuất theo hệ thống dây chuyền
thì các công đoạn phải sắp xếp theo đúng trình tự quy định từ khi nguyên liệu
bắt đầu đưa vào sản xuất đến khi sản phẩm tạo ra (công đoạn đóng gói như: sản
xuất nước giải khát, mì ăn liền, xà phòng ...)
- Đối với những sản phẩm phải lắp ráp nhiều chi tiết lại với nhau mới tạo
thành sản phẩm hoàn chỉnh thường bố trí sản xuất các bộ phận chi ciết sản phẩm
ở nhiều cơ sở khác nhau (các phân xưởng trong doanh nghiệp hoặc các cơ sở
độc lập) sau đó lắp ráp thành sản phẩm hoàn chỉnh (ô tô, xe máy, xe đạp ...). Với
những loại sản phẩm này, các bộ phận sản xuất có thể tiến hành đồng thời với
nhau. Tuy nhiên, trong từng công đoạn để tạo ra được những chi tiết sản phẩm
lại có quá trình sản xuất riêng, theo trình tự quy định.
Đặc điểm này cho phép các nhà sản xuất có thể lựa chọn mức độ chuyên
môn hoá phù hợp mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất mà không nhất thiết phải
thực hiện sản xuất hoàn chỉnh một sản phẩm.
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 130
Từ đặc điểm này có thể rút ra một vài kết luận có ý nghĩa về tổ chức quản
lý quá trình sản xuất sản phẩm công nghiệp:
+ Sản xuất sản phẩm công nghiệp có khả năng thực hiện chuyên môn hoá
sâu, chuyên môn hoá sản xuất ra chi tiết sản phẩm, từ đó có điều kiện nâng cao
chất lượng sản phẩm cuối cùng. Tuy nhiên, do tổ chức sản xuất theo hướng
chuyên môn hoá chi tiết sản phẩm nên muốn sản xuất đạt hiệu quả cao đòi hỏi
phải tuân thủ các vấn đề có tính nguyên tắc là: tiêu chuẩn hoá sản xuất và tạo
mối liên kết chặt chẽ giữa các đơn vị sản xuất các bộ phận chi tiết sản phẩm với
lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh. Muốn vậy, từng ngành (ngành chuyên môn hoá),
từng doanh nghiệp (công ty, tổng công ty) phải có quy hoạch sản xuất hơp lý -
từ xác định vị trí đặt các cơ sở sản xuất phụ tùng (linh kiện) đến thống nhất về
tiêu chuẩn sản phẩm, quy mô sản xuất, trang bị máy móc thiết bị, đào tạo công
nhân ... Cần tránh tình trạng tự phát trong sản xuất phụ tùng và không kiểm soát
được chất lượng.
+ Cần quan tâm nghiên cứu hoàn thiện cách thức tổ chức sản xuất khoa
học trong từng cơ sở sản xuất cũng như giữa các cơ sở sản xuất có liên quan chặt
chẽ với nhau trong việc tạo ra sản phẩm cuối cùng.
+ Do sản xuất theo dây chuyền và đi vào chuyên môn hoá nên việc quan
tâm giáo dục, rèn luyện công nhân về ý thức, thái độ và tác phong lao động có ý
nghĩa rất quan trọng. Bởi lẽ, một người kém ý thức trong lao động có thể ảnh
hưởng đến cả dây chuyền sản xuất và nhiều khi gây thiệt hại rất lớn.
6.1.2.2. Đặc điểm về công nghệ sản xuất
Công nghệ sản xuất trong công nghiệp do con người tạo ra.
Quá trình tạo ra sản phẩm công nghiệp được thực hiện thông qua hệ thống
máy móc, thiết bị với đội ngũ công nhân có trình độ tay nghề cao. Hay nói cách
khác, lao động tạo ra sản phẩm trong công nghiệp là lao động có kỹ thuật, lao
động bằng máy móc.
Từ đặc điểm này, muốn khẳng định một vấn đề có tính quyết định trong
phát triển công nghiệp của mỗi quốc gia là phải quan tâm ngay từ đầu việc đầu
tư, áp dụng công nghệ hiện đại (có thể là nhập khẩu hoặc nghiên cứu trong
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 131
nước) và thường xuyên nghiên cứu, đổi mới công nghệ cũng như quan tâm đào
tạo đội ngũ công nhân lành nghề. Đặc biệt trong thời đại ngày nay, hội nhập và
cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, thời đại kinh tế tri thức thì việc đầu tư cho
hiện đại hoá công nghệ và đào tạo nhân lực ngày càng trở nên cấp bách.
6.1.2.3. Đặc điểm về sự biến đổi của các đối tượng lao động sau mỗi chu
kỳ sản xuất và sản phẩm tạo ra
Từ một nguồn nguyên liệu, sau mỗi chu kỳ sản xuất, với những công nghệ
khác nhau có thể tạo ra nhiều loại sản phẩm với nhiều công dụng khác nhau;
cùng một loại sản phẩm có thể tạo ra nhiều kiểu dáng, mẫu mã khác nhau (từ gỗ,
sắt, thép, nhựa ... có thể tạo ra muôn vàn các sản phẩm khác nhau).
Đặc điểm này thể hiện khả năng mở rộng sản xuất, khả năng sáng tạo, khả
năng nâng cao hiệu quả của sản xuất công nghiệp rất cao so với các ngành kinh
tế khác.
Từ đặc điểm này đòi hỏi trong phát triển công nghiệp, từng ngành chuyên
môn hoá cũng như từng doanh nghiệp phải thường xuyên nghiên cứu đa dạng
hoá sản phẩm. Nghĩa là từ một nguồn nguyên liệu tạo ra nhiều loại sản phẩm
khác nhau hoặc cùng một loại sản phẩm phải tạo ra nhiều kiểu dáng, mẫu mã
khác nhau để thoả mãn nhu cầu khách hàng. Cần nhớ rằng nhu cầu của khách
hàng rất đa dạng và luôn thay đổi. Vì vậy, nếu chậm nắm bắt nhu cầu khách
hàng để rồi chậm đổi mới sản phẩm thì nguy cơ thất bại là khó tránh khỏi.
Do sản xuất công nghiệp có khả năng tạo ra nhiều loại sản phẩm đáp ứng
nhu cầu đa dạng của xã hội, trong đó nhiều loại sản phẩm là nhu cầu thiết yếu
của đời sống con người, nên ở tầm vĩ mô, Nhà nước cần có chiến lược và quy
hoạch phát triển từng ngành công nghiệp chuyên môn hoá phù hợp với từng giai
đoạn, trong đó cần xác định những ngành công nghiệp mũi nhọn, trọng yếu cần
tập trung đầu tư và những sản phẩm công nghiệp nào phải nhập khẩu.
6.1.2.4. Sản xuất công nghiệp có khả năng tập trung với mật độ rất cao,
vì vậy, có thể bố trí trong các nhà xưởng với các điều kiện nhiệt độ, ánh sáng ...
nhân tạo, vì vậy, tính chủ động trong sản xuất công nghiệp rất cao, ít bị ảnh
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 132
hưởng của điều kiện tự nhiên (trừ ngành công nghiệp khai thác), do đó, sản xuất
công nghiệp có tính ổn định hơn so với sản xuất công nghiệp.
Nhận thức đặc điểm này đòi hỏi mỗi quốc gia muốn phát triển công
nghiệp, phải quan tâm xây dựng các khu công nghiệp tập trung. Đối với từng
doanh nghiệp cần bố trí sản xuất trên mặt bằng các phân xưởng phải khoa học,
hợp lý nhằm tiết kiệm diện tích sản xuất, bảo đảm an toàn, thuận lợi cho quá
trình thao tác của công nhân. Mặt khác cần thường xuyên quan tâm đầu tư để cải
tạo môi trường làm việc, bảo đảm sức khoẻ cho người lao động, nâng cao năng
suất lao động.
Tất cả những đặc điểm của sản xuất công nghiệp đã tạo ra những ưu thế
đặc biệt cho sản xuất công nghiệp, làm cho công nghiệp có những điều kiện
thuận lợi để phát triển nhanh, ổn định trên cơ sở trình độ ứng dụng thiết bị khoa
học và công nghệ ngày càng rộng rãi, các hình thức, phương pháp tổ chức quản
lý ngày càng hiện đại và trở thành ngành có vai trò dẫn dắt, định hướng cho sự
phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
6.2. Vai trò của sản xuất công nghiệp đối với tăng trưởng và phát
triển kinh tế
Đối với nước ta, từ một nền kinh tế phổ biến là sản xuất nông nghiệp đi
lên, công nghiệp được coi là ngành kinh tế chủ đạo trong hệ thống kinh tế quốc
dân. Mục tiêu phát triển kinh tế nước ta là từ một nước nông nghiệp lạc hậu phải
trở thành nước công nghiệp vào năm 2020. Với tư cách là ngành kinh tế chủ
đạo, sự phát triển của công nghiệp sẽ có ý nghĩa quyết định đến tốc độ tăng
trưởng của toàn bộ nền kinh tế.
6.2.1. Trước hết, sự phát triển công nghiệp có ý nghĩa quyết định đến
việc trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật của toàn bộ nền kinh tế, hiện đại hoá nền
kinh tế. Lê-nin đã từng khẳng định cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội
là nền đại công nghiệp cơ khí. Như vậy sự phát triển của công nghiệp có ý nghĩa
quyết định đến quá trình hiện đại hoá nền kinh tế mà hệ quả tất yếu là tạo ra
năng suất lao động cao ở tất cả các ngành, các lĩnh vực khác nhau của nền kinh
tế quốc dân. Thực tiễn phát triển kinh tế ở hàng loạt các nước có nền kinh tế thị
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 133
trường phát triển cũng như ở nước ta trong những năm đổi mới đã khẳng định
điều đó. Có thể nói những thành tựu của sản xuất công nghiệp, phương pháp sản
xuất công nghiệp đã xâm nhập vào tất cả các ngành kinh tế, các lĩnh vực khác
nhau của đời sống, nhờ đó nhiều tiềm năng trong phát triển kinh tế, xã hội được
khai thác ngày càng hiệu quả. Từ đây, chúng ta có thể khẳng định một vấn đề là
mỗi quốc gia, tuỳ từng giai đoạn phát triển mà lựa chọn cho mình những ngành
công nghiệp làm nền móng (công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất) phù hợp.
Công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất phát triển tạo cơ sở để thực hiện tái sản
xuất mở rộng cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Chính vì vậy, khi xác định trình
tự ưu tiên trong phát triển các ngành sản xuất xã hội, Mác đã chỉ rõ: sản xuất tư
liệu sản xuất để chế tạo tư liệu sản xuất tăng nhanh nhất, sau đó đến sản xuất tư
liệu sản xuất để chế tạo tư liệu tiêu dùng và chậm nhất là sản xuất tư liệu tiêu
dùng. Mác còn đề cao vai trò của công cụ lao động trong phát triển kinh tế, coi
công cụ lao động là cái năng động nhất, có ý nghĩa quyết định nhất đến năng
suất lao động. Những kết luận của Mác về vai trò của công nghiệp sản xuất tư
liệu sản xuất đối với sự phát triển kinh tế đất nước đã được các nước có nền kinh
tế thị trường vận dụng rất thành công. Đó là các nước phát triển đã bằng mọi
cách phát triển các ngành công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất để trang bị cơ sở
vật chất - kỹ thuật hiện đại cho nền kinh tế, thường xuyên quan tâm đổi mới máy
móc, thiết bị để nâng cao năng suất lao động.
Từ sự phân tích ở trên có thể đi đến kết luận, công nghiệp phát triển sẽ tạo
ra hệ thống xương cốt cho tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc
dân, nó sẽ cải biến nền kinh tế từ tình trạng lạc hậu sang nền kinh tế phát triển
hiện đại.
6.2.2. Vai trò chủ đạo của công nghiệp còn thể hiện, công nghiệp có
khả năng định hướng cho các ngành kinh tế và các lĩnh vực khác của nền
kinh tế phát triển
Có thể nói, định hướng phát triển các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế
không thể tách rời định hướng phát triển các ngành công nghiệp. Chẳng hạn, sự
phát triển của công nghiệp chế biến, bảo quản nông sản sẽ quyết định hướng
GIÁO TRÌNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ NAM ĐỊNH 134
phaá triển các vùng sản xuất nông sản làm nguyên liệu hoặc hàng hoá tập trung.
Sự phát triển công nghiệp năng lượng có ý nghĩa quyết định đến hướng phaá
triển của các ngành kinh tế khác ...
6.2.3. Công nghiệp phát triển sẽ làm tăng giá trị của các loại nguyên
liệu đưa vào chế biến, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng đa dạng của xã hội và tăng
nhanh hàng xuất khẩu. Nếu có một ngành công nghiệp chế biến phát triển ở
trình độ cao thì mọi nguồn nguyên liệu đều trở nên có giá trị, không có thứ nào
bị bỏ phí, kể cả các loại phụ, phế phẩm của quá trình chế biến sản phẩm. Chẳng
hạn, nếu công nghiệp chế biến gỗ hiện đại thì mọi thứ gỗ đều là nguyên liệu;
một cây gỗ đưa vào chế biến, nếu công nghệ chế biến lạc hậu chỉ sử dụng được
phần lõi, còn công nghệ hiện đại thì gỗ cành, gỗ ngọn, phần vỏ và mùn cưa đều
là nguyên liệu. Ở nước ta hiện nay, công nghiệp chế biến đã bắt đầu phát triển
nên nhiều loại nông sản trước đây không được coi trọng, nhưng nay có thể là
những cây nguyên liệu có giá trị như: sắn, các loại cây có bột khác, đặc biệt là
các loại cây công nghiệp như chè, cà phê và tương lai là ca cao và chăn nuôi bò
lấy sữa ...
Công nghiệp phát triển sẽ đóng góp trực tiếp và to lớn vào tốc độ tăng
trưởng kinh tế đất nước, làm thay đổi quan hệ xuất nhập khẩu, thay đổi cán cân
ngoại thương, làm thay đổi nhanh bộ mặt kinh tế - xã hội của đất nước.
6.2.4. Công nghiệp còn có vai trò quan trọng trong củng cố quốc phòng,
giữ gìn an ninh quốc gia. Bởi lẽ, công nghiệp phát triển, nhất là ngành công
nghiệp quốc phòng sẽ tạo khả năng để hiện đại hoá quân đội, tăng cường khả
năng phòng thủ đất nước và dập tắt nhanh chóng những âm mưu phá hoại của kẻ
thù.
6.3. Quy hoạch phát triển công nghiệp
Bao gồm quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp, quy hoạch phát triển
từng ngành công nghiệp chuyên môn hoá (điện, xi măng, phân bón ...), quy
hoạch các khu công nghiệp, khu chế xuấ
Các file đính kèm theo tài liệu này:
- kinh_te_phat_trien_p2_4963.pdf