Tài liệu Dịch tễ học, sinh bệnh học và cơ chế di truyền học trong bệnh lao kháng thuốc: Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013 Tổng Quan
DỊCH TỄ HỌC, SINH BỆNH HỌC VÀ CƠ CHẾ DI TRUYỀN HỌC
TRONG BỆNH LAO KHÁNG THUỐC
Ngô Thanh Bình*
Bệnh lao kháng thuốc (LKT), đặc biệt là lao giới với hai mục tiêu chính: (1) ước đoán mức độ
đa kháng thuốc (Multidrug Resistant đề kháng thuốc lao; và (2) theo dõi chiều hướng
Tuberculosis, MDR-TB), là một vấn đề y tế thời tiến triển của đề kháng thuốc lao. Tổng cộng có 6
sự nghiêm trọng, không ngừng gia tăng tỉ lệ mắc báo cáo toàn cầu về đề kháng thuốc lao và 4 tài
bệnh và tử vong trên toàn cầu hiện nay. Đây là liệu hướng dẫn thực hiện khảo sát về đề kháng
nguyên nhân gây ra nhiều khó khăn cho việc thuốc lao(46). Đến năm 1997, kết quả khảo sát về
phát hiện, tầm soát, điều trị, quản lý và kiểm soát LKT trên toàn thế giới đã cho thấy tỉ lệ MDR-TB
bệnh lao trong cộng đồng của Chương trình mắc phải ở Nepal là 48%; Ấn độ (34%);
chống lao (CTCL). Trong phần tổng quan này, NewYork (30%); Bolivia (15%), và...
11 trang |
Chia sẻ: Tiến Lợi | Ngày: 31/03/2025 | Lượt xem: 7 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Dịch tễ học, sinh bệnh học và cơ chế di truyền học trong bệnh lao kháng thuốc, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013 Tổng Quan
DỊCH TỄ HỌC, SINH BỆNH HỌC VÀ CƠ CHẾ DI TRUYỀN HỌC
TRONG BỆNH LAO KHÁNG THUỐC
Ngô Thanh Bình*
Bệnh lao kháng thuốc (LKT), đặc biệt là lao giới với hai mục tiêu chính: (1) ước đoán mức độ
đa kháng thuốc (Multidrug Resistant đề kháng thuốc lao; và (2) theo dõi chiều hướng
Tuberculosis, MDR-TB), là một vấn đề y tế thời tiến triển của đề kháng thuốc lao. Tổng cộng có 6
sự nghiêm trọng, không ngừng gia tăng tỉ lệ mắc báo cáo toàn cầu về đề kháng thuốc lao và 4 tài
bệnh và tử vong trên toàn cầu hiện nay. Đây là liệu hướng dẫn thực hiện khảo sát về đề kháng
nguyên nhân gây ra nhiều khó khăn cho việc thuốc lao(46). Đến năm 1997, kết quả khảo sát về
phát hiện, tầm soát, điều trị, quản lý và kiểm soát LKT trên toàn thế giới đã cho thấy tỉ lệ MDR-TB
bệnh lao trong cộng đồng của Chương trình mắc phải ở Nepal là 48%; Ấn độ (34%);
chống lao (CTCL). Trong phần tổng quan này, NewYork (30%); Bolivia (15%), và Hàn quốc
chúng tôi tập trung đề cập đến những diễn biến (15%)(32).
mới về dịch tễ học, đặc điểm sinh bệnh học của Năm 1999, chiến lược điều trị có kiểm soát
bệnh LKT, và những phát hiện mới về cơ chế di trong một thời gian ngắn (DOTS) mở rộng
truyền học của chủng vi khuẩn (VK) lao kháng (DOTS-Plus) cho MDR-TB được triển khai nhằm
thuốc cũng như trình bày một vài khuyến cáo chặng đứng sự lưu hành và lan rộng của VK
mới trong điều trị LKT, nhằm làm tăng thêm sự LKT. Năm 2000, nhóm làm việc về chiến lược
hiểu biết về bệnh lý này. DOTS mở rộng được thành lập. Có 5 yếu tố đảm
DỊCH TỄ HỌC LAO KHÁNG THUỐC bảo thành công của DOTS: (1) Có sự cam kết của
chính quyền, lãnh đạo y tế; (2) Phát hiện bệnh
Tình hình lao kháng thuốc ở trên thế giới bằng soi đàm trực tiếp; (3) Sử dụng phác đồ điều
Năm 1947, Pyle mô tả sự xuất hiện của VK trị ngắn ngày, thống nhất trong toàn quốc; (4)
lao kháng thuốc khi dùng Streptomycin để điều Cung ứng thuốc thường xuyên, đầy đủ và đều
trị lao trong một thời gian. Vào thập kỷ 50, các đặn; (5) Có hệ thống sổ sách ghi chép, báo cáo,
nghiên cứu đã chứng minh có VK lao kháng kiểm tra giám sát và lượng giá chương trình là
thuốc thuộc dòng hoang dại Mycobacterium nền tảng của các hoạt động phòng chống lao và
tuberculosis (M. tuberculosis), ngay cả khi chưa cũng là biện pháp phòng chống sự xuất hiện và
dùng thuốc kháng lao. Đến năm 1970, David cho lan rộng của đề kháng thuốc. Tuy nhiên, chiến
rằng LKT xuất phát từ sự xuất hiện tự nhiên và lược DOTS không đủ kiềm chế dịch tễ lao ở các
ngẫu nhiên trong nhiễm sắc thể của VK lao. Ông nước mà tỉ lệ LKT và tái trị cao. Đồng thời, Ủy
đã tính được tỉ lệ đột biến kháng với từng loại ban Ánh sáng xanh cũng được thành lập nhằm
thuốc kháng lao đối với 106 VK lao như sau: 40 đẩy mạnh việc dùng các thuốc kháng lao hàng
VK lao kháng với SM; 5 VK lao kháng với INH; thứ hai có chất lượng, sử dụng thích hợp trong
0,1 VK lao kháng với RIF; 10 VK lao kháng với CTCL. Các kế hoạch của DOTS mở rộng đã
EMB. Khả năng đột biến ngẫu nhiên kháng cùng chứng minh là một sự can thiệp có hiệu quả, lợi
lúc với 2 thuốc RIF và INH là 0,1/106 x 5/106(1,2,8). ích và khả thi cho việc điều trị MDR-TB ở các
Năm 1994, trước tình hình VK lao có xu nước kém phát triển(33,35).
hướng đề kháng với các thuốc kháng lao ngày Từ 1999-2002, WHO khảo sát trên 55.779
càng nhiều, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã tiến trường hợp, tỉ lệ LKT như sau: (1) Đối với BN
hành Đề án khảo sát tình trạng LKT trên toàn thế mới chưa điều trị lao: tỉ lệ kháng bất kỳ thuốc lao
* Bộ môn Lao và Bệnh phổi - Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: TS Ngô Thanh Bình ĐT: 0908955945 Email: bsthanhbinh@yahoo.com
Chuyên Đề Nội Khoa I 1 Tổng Quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013
hàng thứ nhất là 10,2% (0 - 57,1%); kháng SM là TB ở BN mới là 4% và BN đã điều trị lao trước
6,3%; INH (5,9%); RIF (1,4%); EMB (0,8%); kháng đó là 20,9%. Tóm lại, tình hình LKT ở khu vực
với nhiều thuốc lao là 1,9%; và tỉ lệ lao MDR-TB Tây Thái Bình Dương như sau: (1) Đối với BN
trung bình là 1,1% (0 - 14,2%). (2) Đối với BN đã mới chưa điều trị: tỉ lệ kháng bất kỳ thuốc lao
điều trị lao trước đó: tỉ lệ kháng bất kỳ một thứ hàng thứ nhất là 19,8%; kháng với nhiều thuốc là
thuốc kháng lao: 18,4% (0 - 82,1%); kháng với 4%; và MDR-TB là 1,3%; (2) Đối với BN đã điều
nhiều thuốc lao là 3,2%; và tỉ lệ MDR-TB là 7% (0 trị lao trước đó: tỉ lệ kháng bất kỳ thuốc lao hàng
- 58,3%)(36). thứ nhất là 39,9%; kháng với nhiều thuốc là 7,3%;
Năm 2002, Quỹ Toàn Cầu Chống AIDS, và MDR-TB là 20,4%. Ở khu vực Đông Nam Á,
Lao và Sốt Rét bắt đầu tài trợ cho các CTCL và tình hình LKT như sau: (1) Đối với BN mới chưa
DOTS mở rộng đã có nhiều kế hoạch liên quan điều trị: tỉ lệ kháng bất kỳ thuốc lao hàng thứ
đến MDR-TB. Cuối năm 2004 đã có 30 kế hoạch nhất là 19,8%; kháng với nhiều thuốc lao là 4%;
được trình bày. Mục tiêu chiến lược DOTS mở và MDR-TB là 1,3%. (2) Đối với BN đã điều trị
rộng 2006 - 2015 là điều tra, quản lý và cung cấp lao trước đó: tỉ lệ kháng bất kỳ thuốc lao hàng
dịch vụ chẩn đoán và điều trị MDR-TB. Theo thứ nhất là 39,9%; kháng với nhiều thuốc lao là
thống kê của WHO, vào năm 2004, trên thế giới 7,3%; và MDR-TB là 20,4%(37,40).
tối thiểu có 104 nước có ít nhất một trường hợp Đồng thời, năm 2006, trong khi các CTCL
MDR-TB, trong đó, đa số nước có từ 50 trường trên thế giới chưa giải quyết được tình trạng
hợp MDR-TB trở lên. Tỉ lệ MDR-TB của một số MDR-TB thì nhân loại phải đối mặt với một tình
nước như sau: cao nhất là Parkistan (9,6%); kế trạng kháng thuốc lao mới, đó là Lao siêu kháng
đến Afghanistan (7,3%); Nga (6,0%); Trung quốc thuốc (Extensively drug resistant-TB, XDR-TB).
(5,3%); Cambodia (4,2%); Ấn độ (3,4%); Song hành với sự gia tăng MDR-TB trên toàn thế
Philippines (3,25%); Việt nam (2,3%); Tanzania giới, tỉ lệ XDR-TB cũng xuất hiện ở nhiều nước.
(2,1%); Zimbabwe (1,9%); Nam phi (1,5%); Chẳng hạn, tháng 5/2006, xuất hiện trường hợp
Myanmar (1,5%); Indonesia (0,7%); Thái lan XDR-TB/HIV ở Nam Phi. Từ 1/2005 đến 3/2006
(0,5%); và Kenya (0%)(37). có 221 trường hợp MDR-TB ở Tugela Ferry,
Theo báo cáo của WHO, vào năm 2006, ở trong đó 53 trường hợp là XDR-TB và một nữa
khu vực Tây Thái Bình Dương, có 82.087 MDR- số BN này không có tiền căn điều trị lao. Một
TB trong tổng số 1.882.930 BN lao mới (chiếm nghiên cứu của CDC và WHO (2006), trong
4,4%) và 70.601 MDR-TB trong tổng số 289.214 17.690 mẫu được làm KSĐ của 49 nước có 20% là
BN đã điều trị (chiếm 24,4%). Tỉ lệ MDR-TB ở MDR-TB, trong đó 2% là XDR-TB(15,38,42).
BN lao mới thay đổi từ 0% (Cambodia) đến Đến năm 2007, trên toàn thế giới ước đoán có
11,1% (Northern Mariana Islands) và ở BN đã khoảng 0,5 triệu trường hợp MDR-TB, trong đó
điều trị là từ 1% (Singapore) đến 27,5% có 27 nước có tần suất mắc MDR-TB cao nhất,
(Mongolia). Các nước có tỉ lệ MDR-TB cao trong đứng hàng đầu là Ấn độ (131.000 trường hợp),
khu vực là Trung Quốc, Philippines, Việt Nam. kế đến là Trung quốc (112.000), Liên bang Nga
Tổng số MDR-TB ở BN mới của Trung Quốc, (43.000), Nam phi (16.000) và Bangladesh
Philippines và Việt Nam chiếm 97% trường hợp (15.000). Tỉ lệ MDR-TB trong năm 2007 là 4,9%.
và MDR-TB ở BN đã điều trị lao là 98% trường Trong đó, (1) Đối với BN mới chưa điều trị lao: tỉ
hợp trong khu vực. Tỉ lệ MDR-TB ở Trung Quốc lệ MDR-TB là 3,1%. (2) Đối với BN đã điều trị lao
chiếm 85% trường hợp MDR-TB trong khu vực. trước đó: tỉ lệ MDR-TB là 19% (41). Tháng
Tỉ lệ MDR-TB ở BN mới và BN đã điều trị là 5% 11/2007, đã có 41 nước báo cáo có XDR-TB (38).
và 25,5%. Philippines là nước có số MDR-TB Tuy nhiên, đến cuối tháng 3/2009 đã có 55 nước
(9%) cao đứng thứ hai trong khu vực. Tỉ lệ MDR- báo cáo có XDR-TB và đến tháng 11/2009, tăng
2 Chuyên Đề Nội Khoa I Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013 Tổng Quan
lên 57 nước và vùng lãnh thổ có ít nhất 1 hợp MDR-TB được nhận điều trị vào năm 2010
trường hợp XDR-TB(44). WHO và CDC đã tuyên là 38.652 trường hợp, năm 2011 là 44.177 trường
bố XDR-TB như là mối đe dọa khẩn cấp và hợp, và năm 2012 là 51.992 trường hợp. Chính vì
nguy hiểm đối với vấn đề kiểm soát bệnh lao và thế, việc chẩn đoán và điều trị thích hợp các
sức khỏe cộng đồng. Đồng thời, XDR-TB cũng trường hợp MDR-TB vẫn còn là những thách
đưa ra thách thức mới đối với kiểm soát thức lớn và khó khăn cho CTCL trên toàn cầu.
(41,44)
HIV/AIDS toàn cầu . Tình hình LKT ở Việt Nam
(45)
Theo báo cáo cáo của WHO (2010) , vào Năm 1978, tại bệnh viện Lao và Bệnh phổi
năm 2008, trên thế giới có khoảng 440.000 trường (BVL&BP) Trung ương tỉ lệ LKT ở BN mới là
hợp MDR-TB. Đến năm 2011, theo báo cáo của 18,18% và ở BN đã điều trị lao trước đó là
Liên đoàn chống lao và bệnh phổi quốc tế 88,98%(3). Đến năm 1988, tỉ lệ LKT ở BN mới tại
(46)
(IUATLD) , đã cho rằng số trường hợp MDR- BVL&BP Trung ương tăng lên là 37,2%(18). Tại
TB đã gia tăng trong vòng 5 năm qua, cụ thể theo BVL&BP Thái nguyên, nghiên cứu ở 50 BN lao
số liệu thống kê vào năm 2010, trên thế giới ước phổi AFB (+) mới từ tháng 2 đến 10/2006, cho
đoán có khoảng 650.000 trường hợp MDR-TB thấy tỉ lệ kháng thuốc lao chung là 40%; kháng
trong số 12 triệu người mắc lao nhưng chỉ có với mỗi loại thuốc lao như INH, SM, RIF và EMB
dưới 5% BN MDR-TB được làm kháng sinh đồ lần lượt là 28%, 20%, 8% và 4%; tỉ lệ kháng với 1,
chẩn đoán (KSĐ), trong đó dưới 2% MDR-TB 2 và >3 thuốc là 26%, 10% và 4%; và tỉ lệ MDR-TB
mới và 6% MDR-TB ở BN có tiền căn điều trị lao là 4%(7). Tình hình MDR-TB ở BN lao phổi tại Hải
được phát hiện qua KSĐ. Trong số 27 nước có tỉ Phòng từ năm 2007 đến năm 2010, tỉ lệ MDR-TB
lệ mắc MDR-TB cao nhất thế giới, tổng số BN chung 19,3%, tỉ lệ MDR-TB mới là 14,1% và tỉ lệ
MDR-TB được phát hiện qua KSĐ vào năm 2010 MDR-TB ở BN đã điều trị lao là 33,6%(23).
là 46.748 trường hợp (chiếm 19% trong số
Tỉ lệ LKT tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch,
250.000 (160.000 – 340.000) trường hợp lao phổi
TP. Hồ Chí Minh(13,14) như sau: năm 1996, tỉ lệ
nghi ngờ có MDR-TB). Các trường hợp MDR-TB
kháng bất kỳ thuốc lao là 32,5%; kháng từng loại
được làm KSĐ chẩn đoán chủ yếu xảy ra ở các
thuốc: INH là 20,22%, SM (27%), RIF (2,4%),
nước Châu Âu (13/15 nước), trong khi các nước
EMB (0,8%); MDR-TB là 2,3%. Năm 1998 - 2000:
Đông Nam Á và vùng Tây Thái Bình Dương thì
trong 1.433 BN lao mới, tỉ lệ kháng bất kỳ thuốc
tỉ lệ này rất thấp. Ở các nước Châu Âu, có 30% (3
lao là 36,6%; kháng với từng loại thuốc: INH là
– 79%) trường hợp mắc MDR-TB mới và 51% (23
25,1%, RIF (4%), SM (29,4%), EMB (2%); và MDR
– 90%) trường hợp mắc MDR-TB ở BN có tiền
là 3,8%. Trong 401 BN đã điều trị lao, tỉ lệ kháng
căn điều trị lao được phát hiện qua làm KSĐ. Ở
bất kỳ thuốc lao là 65%; kháng với từng loại
Nam Phi tỉ lệ MDR-TB được làm KSĐ là hơn
thuốc: INH là 54%, RIF (27%), SM (54%), EMB
20%. Ở 11 nước còn lại thì tỉ lệ mắc MDR-TB mới
(7%); và MDR-TB là 25%. Năm 2003 – 2005, đối
chưa có số liệu thống kê để công bố, trong khi tỉ
với BN lao mới: tỉ lệ kháng bất kỳ thuốc lao là
lệ MDR-TB ở BN có tiền căn điều trị lao được
30%; kháng với từng loại thuốc lao: INH là 18%,
phát hiện qua làm KSĐ là dưới 5%. Ngoài ra, kết
SM (25%), RIF (4%), EMB (1%); và MDR-TB là
quả điều trị MDR-TB cũng chưa đạt được mục
3%. Đối với BN đã điều trị lao, tỉ lệ kháng bất kỳ
tiêu đề ra ban đầu của WHO. Trên toàn thế giới,
thuốc lao là 60%; kháng với từng loại thuốc lao:
vào năm 2010, có trên 50.000 trường hợp MDR-
INH (44%), SM (4%), RIF (15%), EMB (3%); và
TB được nhận điều trị (chiếm 18%) trong khoảng
MDR-TB là 14%.
290.000 (từ 210.000 – 380.000) trường hợp MDR-
TB có tổn thương lao phổi. Nếu chỉ tính trong số Việt Nam là nước có số BN mắc MDR-TB
27 nước có tỉ lệ mắc MDR-TB cao nhất, số trường nhiều thứ ba trong khu vực Tây Thái Bình
Chuyên Đề Nội Khoa I 3 Tổng Quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013
Dương. Tỉ lệ MDR-TB ở BN lao mới tăng từ 2,3% phác đồ điều trị lao không hợp lý, không đầy đủ,
(năm 1997) lên 2,7% (năm 2007) và tỉ lệ MDR-TB không có được sự gắn kết của người bệnh với
ở những BN đã điều trị lao cũng tăng từ 14% các phác đồ điều trị lao được chọn, cả thầy thuốc
(năm 1997) lên 19% (năm 2007)(4,37,41). Theo WHO và BN không tuân thủ các nguyên tắc điều trị
ước đoán tỉ lệ MDR-TB được phát hiện qua làm lao, hoặc BN thiếu kiến thức (thiếu thông tin
KSĐ ở Việt nam có chiều hướng tăng theo thời hoặc không được giải thích cặn kẽ trước khi bắt
gian, cụ thể vào năm 1995 là 37% (29 – 49%), và đầu điều trị) cũng như thuốc kháng lao được
đến năm 2010 là 54% (43 – 71%). Vào năm 2010, cung cấp không đều đặn, hoặc kém phẩm chất,
tổng số BN MDR-TB được phát hiện qua KSĐ ở là những yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng các
Việt nam là 101 trường hợp (chiếm 2,8% trong số đột biến kháng thuốc lao và những trường hợp
3.600 (2.900 – 4.300) trường hợp lao phổi nghi này sẽ phát triển thành “LKT mắc phải”. Sự phát
ngờ có MDR-TB). Đồng thời, số trường hợp triển của LKT mắc phải thường xảy ra trong các
MDR-TB được nhận điều trị vào năm 2010 là 101 hang của phổi khi có một số lượng lớn VK lao
trường hợp, năm 2011 là 700 trường hợp, và năm nhanh chóng sinh sản. Hiếm khi, sự kém hấp
2012 ước đoán là 1.500 trường hợp(46). thu với một hoặc nhiều thuốc kháng lao được
SINH BỆNH HỌC TRONG LAO KHÁNG xem là có liên quan đến LKT mắc phải. Đồng
thời, hậu quả của sự lan truyền VK LKT từ
THUỐC
người này sang người khác có thể gây ra “LKT
Các yếu tố nguy cơ gây bùng phát bệnh tiên phát”. Ngoài ra, thời gian điều trị kéo dài,
LKT điều trị lặp đi lặp lại làm cho VK lao có thể
Kể từ khi streptomycin (SM) được phát hiện kháng cùng lúc với nhiều thuốc kháng
và sử dụng như một thuốc kháng lao đầu tiên lao(10,22,25,26,32,36).
trong điều trị lao vào năm 1944, phần lớn việc Đồng thời, bệnh LKT còn là hậu quả của
điều trị lao đạt kết quả lành bệnh một cách nhiều yếu tố chương trình chống lao chồng chéo
ngoạn mục. Tuy nhiên, sau đó một thời gian, như giám sát điều trị lao không hiệu quả, thiếu
xuất hiện những trường hợp bệnh lao tái phát. một công thức điều trị lao chuẩn; lồng ghép
Điều này được lý giải là do sử dụng đơn trị liệu chương trình chống lao trong chăm sóc sức khỏe
bằng SM làm bùng phát các chủng VK LKT với ban đầu không tốt; nguồn lực không đủ; bất ổn
SM và tầm quan trọng của VK LKT trong điều trị hoặc thiếu các cam kết chính trị; và các CTCL
càng trở nên rõ ràng hơn. Đối với chủng hoang không được hỗ trợ và/hoặc quản lý yếu kém (khi
dã của VK lao, được biết có khoảng 1/106 VK đề điều trị lao không được theo dõi kiểm soát trực
kháng tự nhiên với một thuốc kháng lao và tiếp, đặc biệt trong giai đoạn tấn công) cũng dẫn
những BN lao phổi có hang có thể chứa 1/106- đến làm bùng phát bệnh LKT(10,18,22,32,34,36).
9
1/10 VK lao trong một tổn thương đơn độc. Do Ngoài ra, những nguy cơ khác gây LKT có
đó, bất kỳ BN nào được điều trị lao với chỉ một thể còn thấy ở những BN có tiền căn điều trị lao
loại thuốc kháng lao sẽ có nguy cơ cao xuất hiện hoặc những BN bị lao tái phát, sự lan truyền
chủng VK lao đề kháng với loại thuốc đó. Một số LKT do di dân từ những vùng có độ lưu hành
BN được đơn hóa trị liệu đã và đang là nguyên lao cao, những BN đã từng bị ở tù, ở nhà dưỡng
nhân tạo ra kháng thuốc lao mắc phải. Đây là các lao, hoặc mắc các bệnh suy giảm miễn dịch như
nguyên nhân thường gặp nhất dẫn đến bệnh lao nhiễm HIV, đái tháo đường, Sự lây lan
đề kháng thuốc và hậu quả tất yếu của nó là sự M.tuberculosis đề kháng thuốc lao với những
lây truyền các chủng kháng thuốc trong cộng người tiếp xúc đã tạo ra những trường hợp mắc
(22,25,26,30)
đồng . lao mới có kháng thuốc tiên phát, cuối cùng dẫn
Điều trị đơn thuần với một thuốc kháng lao, đến đề kháng với nhiều loại thuốc kháng lao.
4 Chuyên Đề Nội Khoa I Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013 Tổng Quan
Điều này không được nhìn nhận như là một vấn cứu đặc điểm sinh học của các VK LKT so với
đề cơ bản cho đến những năm 1990, khi có vài VK lao còn thụ cảm, đã cho thấy có một số đặc
đợt bùng phát bệnh MDR-TB đã được ghi nhận điểm của VK LKT như sau: (1) Xuất hiện một số
ở những vùng khác nhau trên thế giới. Sự lan khâu chuyển hóa mới, ức chế các mắt xích trong
rộng của bệnh MDR-TB gia tăng thêm nữa bởi hoạt động chuyển hóa các chất, (2) Tăng các sản
các CTCL không hiệu quả, thiếu nguồn tài chính, phẩm chuyển hóa với các chất, chống lại quá
giải quyết yếu kém các vấn đề thông khí, cũng trình ức chế trong tế bào, (3) Tăng các chất ức chế
như chậm trễ trong việc phát hiện MDR- hoạt động của hệ thống men trong tế bào, (4) Tạo
TB(2,8,24,25,32,41). nên một hệ thống men có tác dụng làm suy yếu
Cơ chế sinh bệnh học của LKT quá trình ức chế trong tế bào, và (5) Giảm thẩm
Về phương diện sinh học, một dòng VK gọi thấu các chất và VK qua màng tế bào. Đối với
là kháng thuốc khi số lượng VK kháng thuốc đạt VK lao kháng SM, có sự gia tăng hoạt động của
tỉ lệ 1%. VK dùng một số cơ chế để đạt được sự các men aspartamino-transferase và
kháng thuốc. Những cơ chế này có thể chia valinaminotransferase làm giảm hoạt tính men
thành ba nhóm: (1) Cơ chế làm vững thành tế alaniaminotransferase, giảm khả năng tổng hợp
bào (giảm tính thấm đối với thuốc và bơm đẩy), inozid. Đối với VK lao kháng INH có thể giảm
(2) Tiết ra men làm giảm hay bất hoạt tác dụng tính kháng cồn toan của M. tuberculosis, giảm độc
của thuốc, chẳng hạn như men -lactamases, và lực và giảm khả năng gây bệnh. Đối với VK lao
(3) Làm thay đổi mục tiêu tác dụng của thuốc kháng RIF, có thể hoạt động của men catalase
như sự đột biến đơn độc trong “gen quan vẫn giữ nguyên (Meisner; Schrider, 1971) nhưng
trọng”. Thông tin di truyền đối với những tính Dadi (1967) và Mancini (1971) lại thấy VK lao
chất này có thể được đòi hỏi theo những yếu tố giảm độc lực trên thí nghiệm ở chuột. Năm 1993,
di truyền di động ngoại sinh như plasmids hoặc những hiểu biết cơ bản về phân tử đã cho thấy
transposons hoặc trong nhiễm sắc thể. VK lao về được cơ chế kháng thuốc đối với một vài loại
cơ bản không khác biệt mấy so với nhiều VK thuốc. Zang và cộng sự báo cáo về sự biến mất
khác, chúng cũng sử dụng một trong các cơ chế của một gen riêng rẽ mã hóa phản ứng catalase
kháng thuốc này. Thứ nhất, VK lao biến chuyển và peroxydase sẽ tạo nên kháng với INH. Năm
thành tế bào làm giảm tính thấm đối với thuốc. 2003, những phát hiện mới cho thấy rằng hiện
Thứ hai, VK lao tiết ra men làm giảm hoạt tính tượng kháng thuốc là do chuyển vị hay nhiều
của thuốc như men -lactamases và những men gen trong nhiễm sắc thể của VK lao. Nhiều
làm giảm mục tiêu của thuốc. Những cơ chế này nghiên cứu cho thấy rằng hiện tượng VK lao
đã được chứng minh để giải thích sự đề kháng kháng với nhiều loại thuốc là kết quả của những
tự nhiên của nhiều loại VK lao đối với những thay đổi gen mã hóa protein là bia tác dụng của
thuốc kháng lao được sử dụng thường xuyên. các thuốc kháng lao. Vấn đề này nói lên sự phức
Đề kháng đối với thuốc kháng lao được dùng tạp trong điều trị MDR-TB cũng như cần phát
trong điều trị lao nói chung phụ thuộc vào cơ hiện sớm MDR-TB – một vấn đề thời sự hiện
chế đề kháng thuốc thứ ba đó là làm giảm mục nay. Với phương pháp cổ điển, quá trình cấy và
tiêu của thuốc bằng cách gây đột biến những làm kháng sinh đồ phải mất 2 – 3 tháng mới có
“gen đích quan trọng” (key target gens). Vì vậy, kết quả. Nhưng hiện nay, với kỹ thuật BACTEC,
sự đề kháng của VK lao là do có những đột biến có thể cho biết kết quả đề kháng hay nhạy cảm
xảy ra trong nhiễm sắc thể. MDR-TB phản ánh của VK lao với thuốc trong 7 – 10 ngày. Cùng với
sự tích tụ những đột biến riêng rẽ trong một vài các phương pháp sinh học phân tử, có 3 phương
gen độc lập và không ghi nhận có nghẽn tắc pháp giúp phát hiện VK lao thụ cảm hay kháng
“block” trong lao đa kháng thuốc. Khi nghiên thuốc đã ra đời. Trong đó, hai kỹ thuật dựa trên
Chuyên Đề Nội Khoa I 5 Tổng Quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013
khuyếch đại gen của vùng chốt những gen phối tuberculosis kháng với ít nhất cả hai Rifampicin
hợp với hiện tượng kháng thuốc. Các đoạn ADN và Isoniazid.
khuyếch đại được phân tích với đoạn ADN Lao siêu kháng thuốc (Extensively
(PCR – SSCP). Những thay đổi gen liên quan Resistant Tuberculosis, XDR-TB) là gồm MDR-
đến kháng thuốc được so sánh với các đoạn PCR TB kết hợp với kháng bất kỳ một thứ thuốc
có được từ các VK lao thụ cảm. Kỹ thuật thứ ba fluoroquinolones và kháng tối thiểu với một
dựa trên đoạn chứa gen luciferase flux. Những trong ba thuốc kháng lao loại chích hàng thứ hai
đoạn luciferase cho phép lây bệnh cho VK lao. (như capreomycin, amikacin, kanamycin).
Kỹ thuật này đang thịnh hành để tìm những
Đồng thời, ngày nay, LKT không còn được
thuốc kháng lao mới hơn là để đánh giá khả
phân nhóm là LKT tiên phát và LKT mắc phải
năng thụ cảm của thuốc. Điều này đã mở ra
như trước đây nữa. Vì để thuận lợi cho việc quản
nhiều triển vọng trong điều trị bệnh lao trong
lý bệnh LKT theo CTCL nên IUATLD(42) cũng
tương lai gần, đặc biệt là bệnh LKT(1,6,9,11,21,26,29,31).
phân LKT thành 2 nhóm: (1) LKT mới: là khi một
Những chủng hoang dại của M. tuberculosis BN chưa bao giờ điều trị lao trước đó hoặc đã
mà chưa bao giờ tiếp xúc với thuốc kháng lao sẽ điều trị lao dưới một tháng có tiếp xúc với chủng
không bao giờ có đề kháng về phương diện lâm VK LKT; (2) LKT xảy ra ở những BN đã có điều
sàng. Tuy nhiên cũng có một vài ngoại lệ, nhưng trị lao như lao tái phát, lao bỏ trị, lao thất bại với
những ngoại lệ này không được xem là có đóng phác đồ I và II (thường do điều trị lao không
góp đáng kể đến toàn bộ vấn đề LKT. Chẳng đúng nguyên tắc như BN tự ý bỏ trị, hoặc dùng
hạn, những chủng M. tuberculosis tìm thấy ở thuốc lao không đủ liều, không đủ thời gian,
Madras, Ấn độ có một mức độ đề kháng cao đối hoặc cơ địa BN đang mắc bệnh nặng trầm trọng
với thiacetazone (TB1) và para-aminosalicylic gây suy giảm miễn dịch nhất là nhiễm
acid (PAS) hơn là những chủng VK lao ở Anh. HIV/AIDS, đái tháo đường, sử dụng corticoid
Hầu hết những chủng Bovine thì kháng tự nhiên kéo dài, bệnh lý ác tính ).
với PAS và PZA, và phần lớn các Mycobacteria
CƠ CHẾ DI TRUYỀN HỌC TRONG LAO
khác không gây ra bệnh lao có khuynh hướng đề
KHÁNG THUỐC
kháng với các thuốc kháng lao ưu tiên hàng thứ
nhất(17,22,34). Trong những năm gần đây có một số đáng
Bệnh LKT được định nghĩa khi VK lao M. kể công trình nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn về
tuberculosis kháng với ít nhất một loại thuốc cơ chế kháng thuốc và để xác định những gen bị
kháng lao hàng thứ nhất. Năm 2008, Liên đoàn ảnh hưởng. Sử dụng cơ sở dữ liệu phân tử giúp
chống lao và bệnh phổi quốc tế (IUATLD) đã phát triển những phương pháp mới để phát hiện
chia bệnh LKT thành 4 loại(42): MDR-TB sớm hơn(1,6,9,11,12,19,21,26,29,31).
Lao đơn kháng thuốc (Mono–resistant Đề kháng RIF
Tuberculosis): khi VK lao M. tuberculosis kháng RIF có phổ kháng khuẩn rộng, có tác dụng
với một loại thuốc kháng lao hàng thứ nhất. ngăn cản tổng hợp mARN bằng cách gắn với
Lao kháng nhiều thuốc (Poly–resistant ARN polymerase. Đối với các VK thường như
Tuberculosis): khi VK lao M. tuberculosis kháng Escherichia coli, Staphylococcus aureus, Neisseria
với ít nhất hai loại thuốc kháng lao hàng thứ meningitidis kháng với RIF bằng cách gây đột
nhất nhưng không bao gồm cả hai Rifampicin và biến gen tiểu đơn vị (rpoB) của chuỗi ARN
Isoniazid. polymerase. Đối với VK lao M. tuberculosis và M.
Lao đa kháng thuốc (Multidrug–resistant leprae, cũng tìm thấy đột biến gen rpoB của hơn
Tuberculosis, MDR-TB): khi VK lao M. 97% trường hợp LKT. Mặc dù, ghi nhận có đột
6 Chuyên Đề Nội Khoa I Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013 Tổng Quan
biến gen rpoB ở M. avium và M. intra-cellulare hoạt động và sự đề kháng đối với INH như gen
kháng RIF, nhưng đây là đề kháng tự nhiên đối kasA (ketoacid synthase), gen ceoA (UDP
với RIF, là kết quả của cơ chế thoái biến thường galactopyranose reductase), và các gen chi phối
xảy ra ở VK lao tăng trưởng nhanh. NADH và men dehydrogenase của VK lao.
Đề kháng INH Đề kháng PZA
Hiện nay có rất nhiều thông tin với những Có một sự hiểu biết khá rõ về cơ chế đề
bước tiến vượt bậc cả về di truyền học lẫn hóa kháng thuốc của M.tuberculosis (mắc phải) và
sinh học, đề cập đến quá trình hoạt hóa tiền chất M.bovis (tiên phát) bằng cách phá vỡ men
INH thành một dẫn suất mạnh, và hoạt động pyrazinamidase/nicotinamidase. Những chủng
cuối cùng là trên sự tổng hợp sinh học acid M. tuberculosis nhạy cảm tạo ra men
mycolic. INH được tiếp nhận bởi M. tuberculosis pyrazinamidase chuyển đổi PZA thành acid
một cách tích cực và được oxýt hóa bởi men pyrazinoic, được xem là một chất bán hoạt động.
catalase-peroxidase của VK lao. Sự thiếu vắng Hoạt động của acid pyrazinoic được cho là có
hoạt động của men catalase kéo dài là một chỉ ảnh hưởng kết hợp của tính hoạt động chuyên
điểm cho sự kháng INH và ngày nay được biết biệt và khả năng làm pH thấp hơn dưới mức
là do có sự đột biến gen chi phối men này. Hiện dung nạp của cơ quan đích. Tuy nhiên, cơ chế
tượng này được quan sát ở khoảng 50% trường hoạt động chính xác của thuốc thì chưa rõ ràng.
hợp lâm sàng. Đồng thời, với sự hiện diện của Đề kháng EMB
men catalase-peroxidase, một chất trung gian
EMB đặc biệt ức chế sinh tổng hợp thành
hoạt động được tạo ra, sẽ ức chế hoạt động của
tế bào VK lao. Sự kháng EMB liên quan đến
men enol-ACP reductase, được ký hiệu là inhA,
những thay đổi ở một vùng thuộc hệ gen được
có ảnh hưởng trong việc tổng hợp acid mycolic.
xác định là embCAB, là ký hiệu của men
Đột biến gen inhA có liên quan đến đề kháng
arabinosyl-transferases, có tác dụng duy nhất
INH trong khoảng 25% trường hợp. Sự đề kháng
trong tổng hợp những thành phần của thành
Isoniazid xảy ra với nồng độ thấp (MIC
tế bào VK lao như arabino-galactan và
1mg/ml). Phần lớn đột biến gen gây nên sự điều
lipoarabinomannan. Sự kháng thuốc là do sự
chỉnh biểu hiện của gen inhA. Vì vậy, số lượng
tích lũy quá mức những dữ kiện di truyền
men tương ứng gia tăng đã làm mất hoàn toàn
quyết định biểu hiện protein Emb và sự đột
hoạt động tác dụng ức chế của thuốc. Ngoài ra,
biến cấu trúc ở EmbB. Sự đột biến gen liên
hiếm khi đột biến xảy ra tại vị trí tương tác với
quan đến sự đề kháng ở nồng độ cao, xảy ra
dạng hoạt hóa của INH. Chính cấu trúc không
dưới 65% trường hợp kháng thuốc của M.
gian ba chiều của men enol-ACP reductase đã
tuberculosis. Trong khi đó, sự đề kháng ở nồng
cho phép phân tích chi tiết sự tương tác của men
độ thấp hơn (< 10 mg/ml) thường xảy ra nhất
với INH để từ đó đề ra phác đồ điều trị hợp lý
đối với 35% trường hợp kháng thuốc không có
trong tương lai. Ngoài ra, sau khi xác định được
biểu hiện đột biến gen EmbB. Sự kháng thuốc
gen katG và inhA, có 10 – 20% trường hợp đề
hay nhạy cảm tự nhiên với EMB của non-
kháng INH bị thiếu sự đột biến gen. Khi nghiên
tuberculous mycobacteria cũng được xác định
cứu những gen hỗ trợ thì phát hiện gen ahpC, là
bởi vùng gen Emb.
ký hiệu của men alkyl hydroperoxide reductase.
Đột biến gen ahpC được xác định trong khoảng Đề kháng SM
10 – 15% trường hợp là nguyên nhân gây ra sự Cơ chế kháng aminoglycosides thường gặp
đột biến kháng thuốc. Khoảng dưới 10% trường nhất ở VK là do những men làm giảm hoạt tính
hợp LKT INH không rõ cơ chế. Có một vài gen của aminoglycosides bằng plasmids hoặc
đang được nghiên cứu có ảnh hưởng lớn đến transposons. Tuy nhiên, yếu tố quyết định gây
Chuyên Đề Nội Khoa I 7 Tổng Quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013
nên sự đề kháng ngoại sinh thì không được mô gen rrs (là ký hiệu của 16S rARN). Những vòng
tả ở VK lao. M. tuberculosis gây kháng thuốc bằng 16S rARN tương tác với ribosomal protein S12
cách gây đột biến gen mục tiêu của SM trong tạo nên vị trí đột biến gen thứ phát. Sự đột biến
ribosome. Vị trí đột biến gen chính yếu là gen gen ở những cấu trúc đó được xác định trong
rpsL (là ký hiệu của ribosomal protein S12) và 50% và 20% trường hợp LKT.
Bảng 1: Cơ chế di truyền học về đề kháng thuốc lao của Mycobacterium tuberculosis
Thuốc kháng Cơ chế tác dụng Những gen bị ảnh Tần suất Cơ chế
lao hưởng đột biến gen kháng thuốc
INH Ức chế sinh tổng hợp katG (catalase- 42 – 58% -Gây đột biến gen katG dẫn đến thất bại
acid mycolic peroxidase) tạo ra chất trung gian hoạt động của
inhA (enol-acyl 21 – 34% INH
carrier protein -Biểu hiện quá mức inhA cho phép tiếp
tục tổng hợp acid mycolic.
reductase)
-Đột biến ahpC có thể vừa là một chất
ahpC (alkyl
chỉ điểm đối với những sang thương
hydroperoxide 10 – 15% trong katG
reductase)
RIP Ức chế quá trình sao rpoB 96 – 98% Đột biến gen rpoB để ngăn cản sự tương
chép tác với rifampicin
SM Ức chế tổng hợp protein rpsL (ribosomal protein 52 – 59% Đột biến để ngăn cản tương tác với SM.
S12) Sự đề kháng không liên hệ với đột biến
rrs (16S rARN) 8 – 21% rpsL hoặc rrs thường ở mức độ thấp.
EMB Ức chế sinh tổng hợp embCAB (arabinosyl 47 – 65% Biểu hiện quá mức hoặc đột biến gen
rabinogalactan và transferase) embB cho phép tiếp tục sinh tổng hợp
lipoarabinomannan arabinan. Sự đề kháng không liên hệ với
đột biến embB thường ở mức độ thấp.
PZA Không biết pncA (pyrazinamidase- 72 – 97% Làm mất tác dụng của PZA dẫn đến làm
nicotinamidase) giảm chuyển đổi PZA thành acid
pyrazinoic.
Fluoro Ức chế chuỗi xoắn kép gyrA (tiểu đơn vị A của 75 – 94% Đột biến gen ở gyrA để ngăn cản tương
quinolones DNA ADN) tác với fluoroquinolones. Đột biến gen ở
gyrB (tiểu đơn vị B của gyrB và bơm đẩy có thể góp phần gây nên
ADN) kháng thuốc.
Đề kháng Fluoroquinolones (Topoisomerase IV), (3) protein màng tế bào
Bùng nổ hiện nay của MDR-TB là sử dụng điều chỉnh nồng độ thuốc trong tế bào bằng
Fluoroquinolones như là những thuốc kháng cách dung hòa tính hấp thụ và tính đẩy thuốc
lao hàng thứ hai. Bởi vì sử dụng thường xuyên ra. Sự tích lũy đột biến ở một vài gen này là cần
Fluoroquinolones trong cộng đồng như là thiết để đạt được sự kháng thuốc mức độ cao.
thuốc kháng sinh toàn thân nên khi sử dụng Khi thí nghiệm với M. tuberculosis cho thấy một
Fluoroquinolones trong điều trị bệnh nhân bị kiểu phát triển kháng thuốc quen thuộc bao
MDR-TB, sẽ tạo ra những chủng M. tuberculosis gồm một quá trình, đó là sự hiện diện đột biến
kháng fluoroquinolones. Mặt khác, cơ chế phân gen gyrA kháng ciprofloxacin và sự kháng chéo
tử của sự đề kháng fluoroquinolones là một quá những fluoroquinolones khác như ofloxacin.
trình phức tạp gồm nhiều bước. Nghiên cứu ở Gần đây, sự phát hiện về đặc tính bơm đẩy của
vi khuẩn thường cho thấy biểu hiện của gen đột VK lao, sự đột biến gen gyrA (gây sự kháng
biến kháng thuốc xảy ra ở: (1) chuỗi xoắn kép quinolones mức độ thấp) và gyrB đã đóng góp
ADN (bao gồm hai tiểu đơn vị gen gyrA và một hiểu biết hoàn chỉnh hơn về cơ chế kháng
gyrB), (2) men đồng phân hóa định khu IV fluoroquinolones ở VK lao.
8 Chuyên Đề Nội Khoa I Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013 Tổng Quan
MỘT VÀI KHUYẾN CÁO MỚI VỀ DI nhưng có thể đạt được trong tế bào. Vì vậy, mặc
TRUYỀN HỌC TRONG ĐIỀU TRỊ LAO dù tính nhạy cảm chưa thích hợp, nhưng INH và
KHÁNG THUỐC EMB gây tổn thương thành tế bào có thể được
Đầu tiên, tính chất phân tử có thể cung cấp dùng kết hợp với các thuốc kháng lao hàng hai
thông tin về khả năng độc hại của một chuỗi đặc nhằm nâng cao hiệu quả điều trị LKT.
biệt. Vì vậy, một chủng VK lao kháng INH bằng Có những báo cáo nghiên cứu đang còn
cách gây đột biến gen inhA (catalase dương tính) trong giai đoạn thử nghiệm ủng hộ vai trò
sẽ có thể biểu hiện mối đe dọa lớn cho BN và kháng sinh nhóm -lactam như imipenem hoặc
những người tiếp xúc hơn là một chủng VK lao amoxicilline-clavulanate trong điều trị bệnh
kháng INH bị đột biến gen chi phối men catalase nhân MDR-TB. Điều này có thể là một phản
peroxidase. Chủng VK lao đột biến gen inhA ánh hiệu quả của những thuốc này khi tính
cũng có thể hiện diện mức độ đề kháng thấp ( 1 thấm và tương tác của thành tế bào với men -
g/ml), do đó trong một tình huống mà quyền lactamase bị làm giảm. Những chiến lược khác
lựa chọn điều trị bị giới hạn thì có thể cho phép đối với tính thấm thành tế bào khi sử dụng
dùng tiếp INH trong phác đồ điều những thuốc ức chế những bơm đẩy (reserpin,
trị(1,9,11,12,16,21,26,31). thuốc ức chế kênh calcium, cycloserine, và
Đối với RIF, thầy thuốc lâm sàng có thể những thuốc khác) vẫn còn chưa được hiểu
dựa vào ưu thế của những đột biến gen rpoB biết rõ về mặt VK học. Vai trò điều trị đối với
riêng biệt và vẫn sử dụng tính nhạy cảm của những hợp chất như clarythromycin và ngay
rifabutin và dẫn chất rifamycin mới (KRM cả những thuốc điều chỉnh miễn dịch như
1648). Điều này quan trọng trong việc quản lý interferon thì chưa được biết.
những chủng VK lao kháng RIF có những đột Cuối cùng, sự phát triển của thuốc đang
biến gen chuyên biệt đó. được tiếp tục bằng các nghiên cứu chuyên sâu về
Đối với EMB, EMB là một thuốc cần quan sinh học phân tử nhằm tạo ra những thuốc
tâm, đặc biệt EMB vẫn còn hữu dụng trong quản kháng lao mới, hiệu quả hơn những thuốc kháng
lý nhiễm M. avium mặc dù kết quả về tính nhạy lao hiện nay. Các thuốc mới hàng đầu đang
cảm trên thí nghiệm thấp. Điều này là do EMB nghiên cứu như 5 – chloropyrazinoic esters của
làm cho thành tế bào không được tổ chức hóa và Pyrazinamide có tác dụng chống lại những
vì vậy làm tăng tính nhạy cảm đối với các thuốc chủng kháng pyrazinamide; PA824 là một dạng
khác. Thật ra, gen đột biến kháng thuốc tăng tương tự nitroimidazolpyran liên quan đến
trưởng trong sự hiện diện của EMB có thể làm metronidazole; oxazolidinones như là U –
mất lipoarabinomannan của thành tế bào. Một 100480, U – 100592 và U – 100766; và
quan điểm khác cho rằng EMB liên quan đến sự thiolactomycins. Sự khám phá ra bộ gen hoàn
tồn tại gen đột biến ở nồng độ thấp là do sự biểu chỉnh của M. tuberculosis cũng góp phần quan
hiện quá mức của những protein Emb và có giá trọng trong sự phát triển thuốc kháng lao mới
trị MIC < 10 g/ml. Trong khi ở nồng độ này của trong tương lai.
EMB không thể đạt được trong huyết tương,
Chuyên Đề Nội Khoa I 9 Tổng Quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013
Bảng 2: Thuốc kháng lao hàng thứ hai dùng trong điều trị LKT
Thuốc Chú thích
Thuốc nhóm hai cũ và mới: Fluoroquinolones là những thuốc tác dụng mạnh nhất trong nhóm này
Fluoroquinolones, Ethionamide, Prothionamide
PAS, Clofazimine, Kanamycin, Amikacin,
Capreomycin, D-Cycloserine, Thiazetazone
Imipenem Dữ liệu thử nghiệm lâm sàng và trên thí nghiệm ủng hộ vai trò của kháng
Amoxicilline-clavulanate sinh -lactam trong quản lý MDR-TB
Clarythromycin Có tác dụng hợp lực trong điều trị phối hợp
Dùng trong những trường hợp chuyên biệt: Mức đề kháng thấp ( 1 g/ml), đột biến gen inhA.
Isoniazid Mức đề kháng thấp ( 1 g/ml),không có đột biến gen embB. Có thể hữu
Ethambutol ích không tương ứng của MIC.
Rifabutin hoặc KRM1648 Hữu ích trong sự hiện diện của sự đột biến gen rpoB gây kháng RIF.
Interferon Một vài cơ sở lý luận ủng hộ cách sử dụng ngoại lệ của nó
Đang nghiên cứu Tác dụng chống chủng vi khuẩn lao kháng PZA
5 – chloropyrazinoic esters của PZA Chất đồng đẳng Nitroimidazolpyran liên quan đến metronidazole
PA824 Nhóm thuốc mới có tác dụng kháng lao
Oxazolidinomes Nhóm thuốc mới có tác dụng kháng lao
Thiolactomycins
tuberculosis clinical isolates”, Antimicrobial Agents and
KẾT LUẬN Chemotherapy 48, pp: 596–601.
Bệnh lao đa kháng thuốc vẫn còn đe dọa sức 7. Chu Thị Mão, Hoàng Hà (2007), “Đặc điểm lâm sàng, Xquang
và tính chất vi khuẩn kháng thuốc ở bệnh nhân lao phổi mới
khỏe cộng đồng, đặc biệt ở những vùng có tỉ lệ AFB (+) tại Thái Nguyên”, Tạp chí Thông Tin Y Dược, Nhà xuất
mắc lao cao và hoạt động CTCL không hiệu quả. bản TU, Hà Nội, tr. 153-158.
8. Crofton J (1994), “Multidrug resistance: danger for the Third
Do đó, sự hiểu biết sâu sắc về dịch tễ học, sinh World”. In Porter JDH, McAdam, KDNJ. Editors: “Tuberculosis
bệnh học của bệnh lao kháng thuốc cũng như back to the future”, Chichester, John Wiley & Sons Ltd, 231-233.
nắm vững cơ chế di truyền học của VK lao 9. Espasa M, Gonzalez-Martin J, Alcaide F, et al (2005), “Direct
detection in clinical samples of multiple gen mutations
kháng thuốc là cơ sở khoa học giúp giải quyết causing resistance of Mycobacterium tuberculosis to isoniazid
các vấn đề quan trọng như phát hiện, chẩn đoán and rifampicin using fluorogenic probes”, J. Antimicrob.
sớm bệnh lao kháng thuốc, phát minh những Chemother. (55), pp.860-5.
10. Espinal MA, Laszlo A, Simonsen L, Boulahbal F, Kim SJ.
thuốc kháng lao mới và chiến lược điều trị lao (2001), “Global trends in resistance to antituberculosis drugs”.
thích hợp trong quản lý và kiểm soát tốt bệnh lao New England Journal of Medicine, 344, pp: 1294-1302.
11. Hazbon MH (2004), “Recent advances in molecular methods
kháng thuốc trong cộng đồng, đặc biệt là MDR- for early diagnosis of tuberculosis and drug-resistant
TB và XDR-TB. tuberculosis”, Biomedica, (24), pp.149-62.
12. Hillemann D, Weizenegger M, Kubica T, Richter E, Niemann
TÀI LIỆU THAM KHẢO S (2005), “Use of the genotype MTBDR assay for rapid
1. Anandi Martin et al (2007), “Drug resistance and Drug detection of rifampin and isoniazid resistance in
resistance detection”, Textbook of Tuberculosis, pp. 635-660. Mycobacterium tuberculosis complex isolates”, J. Clin.
2. Aziz MA, Wright A, Laszlo A, et al. (2006), “Epidemiology of Microbiol., (43), pp.3699-703.
antituberculosis drug resistance (the Global Project on Anti- 13. Hoàng Thị Phượng, Trần Văn Sáng, Lê Thị Kim Hoa, Phạm
tuberculosis Drug Resistance Surveillance): an updated Thị Thái Hà (2009), “Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm
analysis”, Lancet, (368), pp.2142-54. sàng của lao phổi có vi khuẩn lao kháng đa thuốc”, Kỷ yếu Hội
3. Bộ Y tế - CTCLQG (2001), Phát hiện và điều trị bệnh lao (sách nghị khoa học bệnh phổi toàn quốc lần thứ III-11/2009, tp.HCM, tr.
dịch), Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 221-235. 265-271.
4. Bộ Y tế (2009), Hướng dẫn quản lý bệnh lao, Chương trình chống 14. Hoàng Thị Quý, D.C. Giang, N.C. Quy, M. BorgDorff. (2004)
lao quốc gia Việt nam, Nhà xuất bản Y học Hà nội. “Phân tích kết quả điều tra nhóm bệnh nhân lao mạn tính tại
5. Chaulet P, Boulahbal F, Grosset J (1995), “Surveillance of drug thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1997-2000”. Kỷ yếu các công
resistance for tuberculosis control: why and how?”, Tubercle trình nghiên cứu khoa học lao và bệnh phổi năm 2004.
and Lung Disease 76, pp: 487-492. 15. Jeon CY et al (2008), “Extensively drug-resistant tuberculosis
6. Cheng, AF, Yew WW, Chan EW et al (2004), “Multiplex PCR in South Korea: risk factors and treatment outcomes among
amplimer conformation analysis for rapid detection of gyrase patients at a tertiary referral hospital”, Clinical Infectious
mutations in fluoroquinolone-resistant Mycobacterium Diseases, 46(1), pp.42–49.
16. Kim SY, Park YJ, Song E, et al (2006), “Evaluation of the
10 Chuyên Đề Nội Khoa I Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013 Tổng Quan
CombiChip Mycobacteria Drug-Resistance detection DNA complex DNA and Rifampin Resistance in Clinical Specimens
chip for identifying mutations associated with resistance to from Tuberculosis Patients by the Line Probe Assay; a Large
isoniazid and rifampin in Mycobacterium tuberculosis”, Scale Study”, J. Clin. Microbiol., (44), pp.4384-8.
Diagn. Microbiol. Infect. Dis., (54), pp.203-10. 32. World Health Organization (1997), Anti-tuberculosis drug
17. Kochi A, Vareldzis B, Styblo K (1993), “Multi-drug resistant resistance in the world. Report No. 1. Prevalence and trends. WHO/
tuberculosis and its control”, Research in Microbiology, 73, pp: TB/97.229, 1997.
219-224. 33. World Health Organization (2000). Guidelines for establishing
18. Lê Ngọc Vân (1996), “Tình hình kháng thuốc ban đầu của DOTS- PLUS pilot projects for the management of multi-drug
Mycobacterium tuberculosis phân lập từ BN lao phổi mới phát resistant tuberculosis (MDR-TB). Geneva, (WHO/CDS/ TB/2000.
hiện tại một số địa phương phía bắc Việt nam (1989 - 1992)”, 279).
Luận án phó tiến sỹ Y học, Viện Vệ sinh Dịch tễ học, Hà Nội. 34. World Health Organization (2001). Global Strategy for
19. Mailaender C, Reiling N, Engelhardt H et al (2004), “The Containment of Antimicrobial Resistance, Geneva, 2001.
MspA porin promotes growth and increases antibiotic 35. World Health Organization (2002). DOTS-Plus: Preliminary
susceptibility of both Mycobacterium bovis BCG and Results and Emerging Issues. Proceedings of the Meeting of the Stop
Mycobacterium tuberculosis”. Microbiology, 150: 853-64. TB Working Group on DOTS-Plus for MDR TB.
20. Martin A, Portaels F, Palomino JC (2007), “Colorimetric redox- WHO/CDS/TB/2002. 307.
indicator methods for the rapid detection of multidrug 36. World Health Organization (2003), Guidelines for surveillance of
resistance in Mycobacterium tuberculosis: a systematic review drug resistance in tuberculosis, WHO, Geneva
and meta-analysis”, J. Antimicrob. Chemother., (59), pp.175-83. (WHO/TB/2003.320), (WHO/CDC/ CSD/RND/2003.3), pp. 7-8.
21. Micheal LR (2006), “Diagnosis and treatment of Multidrug- 37. World Health Organization (2006), Guidelines for the
Resistant Tuberculosis”, Reichman and Hershfield’s Tuberculosis, programmatic management of drug-resistant tuberculosis, WHO,
pp.417-458. Geneva (WHO/HTM/TB/2006. 361), pp. 57-74.
22. Mitchison DA (1998), “How drug resistance emerges as a 38. World Health Organization (2007), “MDR-TB surveillance
result of poor compliance during short course chemotherapy and control”, Global tuberculosis control: Serveillance, planning,
for tuberculosis”, Int J Tuberc Lung Dis; 2, pp: 10–15. financing - WHO Report 2007, WHO, Geneva
23. Phan Xuân Trường, Trần Quang Phục, Vũ Ngọc Trường và (WHO/HTM/TB/2007.376), pp. 66-67.
cộng sự (2011), “Tình hình đa kháng thuốc ở bệnh nhân lao 39. World Health Organization (2007), The Global MDR-TB &
phổi tại Hải Phòng từ năm 2007 đến năm 2010”, Tạp chí Lao và XDR-TB Response Plan 2007-2008, WHO-Stop TB Partnership
Bệnh phổi, Kỷ yếu Hội nghị khoa học bệnh phổi toàn quốc lần thứ (WHO/HTM/TB/2007. 387), pp. 5-10.
IV- 11/2011, tr.120. 40. World Health Organization (2008), “Epidemiology, treatment
24. Portaels F, Rigouts L, Shamputa IC, Van Deun A, Aziz M outcomes”, Tuberculosis Control in the Western Pacific Region -
(2006), “Tuberculosis drug resistance in the world”, Chapter 2008 Report, WHO, Western Pacific Region, pp. 3-21.
32, 0-8493-9271-3-Raviglione-CH32-R1-050206, in press. 41. World Health Organization (2008), “TB/HIV, MDR-TB and
25. Rieder HL (1993); “Drug-resistant tuberculosis: issues in other challenges”, Global tuberculosis control: Serveillance,
epidemiology and challenges for public health”, Tuber Lung planning, financing-WHO Report 2008, WHO, Geneva
Dis; 75, pp: 321–323. (WHO/HTM/TB/ 2008.393), pp. 50-55.
26. Riska E, Jacobs WR, Alland D (2000); “Molecular 42. World Health Organization (2008), Anti-tuberculosis drug
determinants of drug resistance in tuberculosis”; Int J Tuberc Resistance in the world. The fourth global report. Genva, World
Lung Dis;42, pp: S4–S10. Health Organization (WHO/HTM/TB/ 2008.394).
27. Rusch-Gerdes S, Pfyffer GE, Casal M, Chadwick M, Siddiqi S 43. World Health Organization (2009), Global tuberculosis control:
(2006), “Multicenter laboratory validation of the BACTEC epidemiology, strategy, financing, WHO Report 2009. Genva,
MGIT 960 technique for testing susceptibilities of World Health Organization (WHO/HTM/TB/ 2009.411).
Mycobacterium tuberculosis to classical second-line drugs and 44. World Health Organization (2009), “Countries that had report
newer antimicrobials”, J. Clin. Microbiol., (44), pp.688-92. at least one XDR-TB case by end March 2009”, © WHO 2009,
28. Sajduda A, Brzostek A, Poplawska M, et al (2004), “Molecular WHO-The Stop TB Department.
characterization of rifampin- and isoniazid-resistant 45. World Health Organization (2010), Guidelines for the
Mycobacterium tuberculosis strains isolated in Poland”, J. surveillance of drug resistance in tuberculosis – 4th ed. Geneva,
Clin. Microbiol., (42), pp.2425-31. World Health Organization, 2010 (WHO/HTM/TB/2009.422).
29. Shamputa IC, Rigouts L, Portaels F (2004), “Molecular gentic 46. World Health Organization (2011). WHO Global TB control
methods for diagnosis and antibiotic resistance detection of report 2011, Geneva, World Health Organization
mycobacteria from clinical specimens”, APMIS, (112), pp.728- (WHO/HTM/TB/2011.16).
52.
30. Snider DE, Castro DK (1998); “The global threat of drug-
resistant tuberculosis”; N Engl J Med; 338, pp: 1689–1690.
31. Traore H, van Deun A, Shamputa IC, Rigouts L, Portaels F
(2006), “Direct Detection of Mycobacterium tuberculosis-
Chuyên Đề Nội Khoa I 11
Các file đính kèm theo tài liệu này:
dich_te_hoc_sinh_benh_hoc_va_co_che_di_truyen_hoc_trong_benh.pdf