Tài liệu Đề tài Đánh giá hiệu quả điều trị lác quy tụ điều tiết – Trịnh Thị Bích Ngọc: 12
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ LÁC QUY TỤ ĐIỀU TIẾT
TRỊNH THỊ BÍCH NGỌC
Bệnh viện Mắt Hà Nội
HÀ HUY TÀI
Bệnh viện Mắt Trung ương
TÓM
TẮT
Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm lâm sàng của lác quy tụ do điều tiết, đánh giá
hiệu quả điều trị của lác quy tụ điều tiết (QTĐT). Đối tượng và phương pháp: 35 bệnh
nhân (BN) lác QTĐT được điều trị ngoại trú tại phòng nhược thị bệnh viện Mắt TW từ
tháng 1/2006 – 8/2008. BN có độ lác quy tụ sau khi đeo kính viễn còn dưới 10PD, có tỷ
số AC/A bình thường. Nghiên cứu mô tả tiến cứu. Kết quả: Tình trạng nhược thị của
BN: MP: 18/35 BN (51,43%), MT: 21/35BN (60%). Nhược thị giảm theo thời gian sau
đeo kính và tập luyện: MP: từ 51,4% xuống 11,4%, MT: Từ 60% xuống 34,3%. Độ viễn
thị có xu hướng giảm theo thời gian (60%). Sau chỉnh kính và tập luyện 94,3% số BN có
phục hồi thị giác 2M, trong đó 57,1% có hợp thị, 28,6% có phù thị. Kết luận: Chênh
lệch tật khúc xạ giữa 2M là yếu tố nguy cơ gây nhược thị. Nhược thị là tình trạng phổ ...
10 trang |
Chia sẻ: Đình Chiến | Ngày: 11/07/2023 | Lượt xem: 199 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Đánh giá hiệu quả điều trị lác quy tụ điều tiết – Trịnh Thị Bích Ngọc, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
12
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ LÁC QUY TỤ ĐIỀU TIẾT
TRỊNH THỊ BÍCH NGỌC
Bệnh viện Mắt Hà Nội
HÀ HUY TÀI
Bệnh viện Mắt Trung ương
TÓM
TẮT
Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm lâm sàng của lác quy tụ do điều tiết, đánh giá
hiệu quả điều trị của lác quy tụ điều tiết (QTĐT). Đối tượng và phương pháp: 35 bệnh
nhân (BN) lác QTĐT được điều trị ngoại trú tại phòng nhược thị bệnh viện Mắt TW từ
tháng 1/2006 – 8/2008. BN có độ lác quy tụ sau khi đeo kính viễn còn dưới 10PD, có tỷ
số AC/A bình thường. Nghiên cứu mô tả tiến cứu. Kết quả: Tình trạng nhược thị của
BN: MP: 18/35 BN (51,43%), MT: 21/35BN (60%). Nhược thị giảm theo thời gian sau
đeo kính và tập luyện: MP: từ 51,4% xuống 11,4%, MT: Từ 60% xuống 34,3%. Độ viễn
thị có xu hướng giảm theo thời gian (60%). Sau chỉnh kính và tập luyện 94,3% số BN có
phục hồi thị giác 2M, trong đó 57,1% có hợp thị, 28,6% có phù thị. Kết luận: Chênh
lệch tật khúc xạ giữa 2M là yếu tố nguy cơ gây nhược thị. Nhược thị là tình trạng phổ
biến ở trẻ bị lác quy tụ điều tiết: MP: 51,43%; MT: 60%. Độ viễn thị có xu hướng giảm
khi trẻ lớn dần. Sau đeo kính và tập luyện, hầu hết BN có hợp thị (57,1%) và phù thị
(28,6%).
Từ khóa: Lác trong điều tiết, nhược thị, thị giác hai mắt
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Lác quy tụ điều tiết (lác quy tụ do
viễn thị) là hình thái lác phổ biến hay gặp
ở trẻ em từ 2- 3 tuổi, thường có chỉ định
điều trị chỉnh quang mà không cần phẫu
thuật. Do vậy cần chẩn đoán chính xác
hình thái lác, xác định rõ tình trạng khúc
xạ (toàn phần) và điều trị kịp thời.
Hiệp hội nhãn khoa quốc tế năm
1994 đã thăm dò ý kiến của các nhà lác
học cho thấy chỉ có 11% phẫu thuật viên
mổ lác quy tụ điều tiết, còn phần lớn tác
giả cho rằng điều trị lác QTĐT chỉ cần
cho trẻ lác đeo kính viễn đủ số, điều này
cũng phù hợp với ý kiến của nhiều nhà
lác học có tên tuổi khác như: Parks
(1958), Polland (1976), Hugonnier
(1978), Gobin (1984), Espinasse (1994),
ATulin (2004). Ở Việt Nam từ trước tới
nay có rất ít nghiên cứu về vấn đề này,
năm 2007 mới có công trình nghiên cứu
của Nguyễn Thị Xuân Hồng về yếu tố
khúc xạ trong lác cơ năng, do vậy cần
phải có thêm những nghiên cứu chuyên
sâu nữa về hình thái lác này. Chúng tôi
tiến hành nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả
điều trị lác quy tụ điều tiết” nhằm hai
mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm lâm
sàng của lác quy tụ do điều tiết và đánh
giá hiệu quả điều trị của lác quy tụ điều
tiết.
13
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP
2.1. Đối tượng nghiên cứu
35 BN bị lác QTĐT được điều trị
ngoại trú tại phòng nhược thị BV Mắt TW
từ tháng 1/2006 đến hết tháng 8/2008 (trung
bình 24 tháng).
- Tiêu chuẩn lựa chọn BN
+ Bệnh nhi từ 3-15 tuổi,
điều trị ngoại trú tại phòng nhược thị
khoa mắt trẻ em BV Mắt TW.
+ BN được chẩn đoán là
lác QTĐT toàn bộ (sau khi mắt được
làm liệt điều tiết hoàn toàn), được đeo
kính viễn thị và hết lác hoặc độ lác quy
tụ còn dưới 10∆, tỷ số AC/A bình
thường (độ lác nhìn gần bằng độ lác
xa).
+ BN có điều kiện theo dõi
sau điều trị (trung bình 24 tháng).
- Tiêu chuẩn loại trừ
+ BN lác không thuộc hình
thái điều tiết toàn bộ.
+ BN chậm phát triển trí
tuệ, không hợp tác trong khám và điều trị
2.2. Phương pháp nghiên cứu
* Thiết kế và cỡ mẫu nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả, tiến cứu.
- Cỡ mẫu n=35 bệnh nhân được tính
theo công thức sau:
p (1- p)
n = Z2 (1- α/ 2)
d2
* Phương tiện nghiên cứu
- Bảng thị lực Landol (cho trẻ ≥ 4
tuổi), bảng thị lực hình đồ vật (trẻ < 4
tuổi).
- Hộp thử kính, bộ dụng cụ soi bóng
đồng tử.
- Máy khúc xạ kế tự động, máy soi
đáy mắt, máy Synopthophore, test
Titmus..
* Quy trình khám xét lâm sàng:
+ Hỏi bệnh sử bản thân về bệnh lác
và các yếu tố liên quan, bệnh sử gia đình
(liên quan tới ông, bà, bố, mẹ, anh chị
em ruột bị lác), tiền sử sinh đẻ.
+ Xác định hình thái và tính chất
lác, tình trạng khúc xạ, trước và sau liệt
điều tiết bằng rỏ dung dịch Atropin 0,5%
x 5 ngày.
+ Khám vận nhãn
+ Đánh giá thị giác hai mắt
+ Đánh giá tỷ số AC/A
+ Xác định độ lác bằng thử nghiệm
cover test, lăng kính, máy
Synopthophore.
+ Thử thị lực trước và sau liệt điều
tiết
+ Chỉnh kính viễn thị phù hợp nhất
(thường cho thị lực tốt nhất) và khử hết
độ lác. Cho BN đeo kính thường xuyên
+ Xác định nhược thị cơ năng (do
lác và tật khúc xạ), đánh giá mức độ
nhược thị.
+ Điều trị nhược thị: chủ yếu áp
dụng phương pháp bịt mắt tốt để luyện
tập mắt kém, các bài tập phản xạ Mắt-
Tay. Trẻ bị nhược thị cả hai mắt do tật
khúc xạ (lác QTĐT do viễn thị cả hai
mắt) được đeo kính đủ số, có thể bịt mắt
luân phiên để luyện tập từng mắt.
* Một số tiêu chuẩn nghiên cứu và
đánh giá
+ Độ lác trước và sau điều trị
+ Tình trạng viễn thị: Phân theo các
mức độ: nhẹ (<3D,), trung bình (3-6D) và
nặng (>6D)
14
+ Tình trạng chênh lệch khúc xạ :
Khi công suất khúc xạ hai mắt chênh
nhau ≥1D.
+ Tình trạng nhược thị: theo phân
loại nhựơc thị kinh điển: nhược thị nhẹ:
thị lực từ 5-7/10; nhược thị trung bình:
thị lực từ 2- 4/10; nhược thị nặng khi thị
lực <1/10.
+ Tình trạng thị giác hai mắt : Theo
3 mức độ: Đồng thị, hợp thị và phù thị
+ Yếu tố nguy cơ gây lác: Gia đình
có người lác, có tật khúc xạ nhất là viễn
thị, tình trang lệch khúc xạ giữa 2 mắt,
nhược thị.
* Thu thập và xử lý số liệu: Theo
phương pháp thống kê y học, sử dụng phần
mềm SPSS 13.0.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm chung và đặc điểm lâm
sàng của BN
3.1.1. Một số đặc điểm chung
Bảng 1. Một số đặc điểm chung
Một số đặc điểm chung Số bệnh nhân (n) Tỷ lệ (%)
Giới tính Nam 17 48,6
Nữ 18 51,4
Yếu tố nguy cơ
Có yếu tố nguy cơ 15 42,9
Không có yếu tố nguy
cơ
20 57,1
Tuổi trung bình bị lác: 31,20 ± 15,14 tháng (từ 4- 72 tháng)
Tuổi trung bình bắt đầu được điều trị: 67,89 ± 36,35 tháng (36- 180 tháng)
- Tổng số BN được nghiên cứu: 35 BN,
17 nam, 18 nữ. 42,9% BN có yếu tố nguy cơ
gây lác QTĐT. 51,4% BN không có yếu tố
nguy cơ.
- Tuổi trung bình xuất hiện lác từ
1,5-4 tuổi (31,20 ± 15,14 tháng), tuổi
thấp nhất bị lác là 4 tháng tuổi và cao
nhất là 72 tháng.
- Tuổi được điều trị ban đầu: 5,3-8,3
tuổi (63,89 ± 36,35 tháng). Tuổi thấp
nhất được điều trị là 3 tuổi, cao nhất là
15 tuổi.
3.1.2. Đặc điểm lâm sàng
* Tình trạng khúc xạ trong lác quy
tụ
Bảng 2. Tình trạng viễn thị
Mắt Nhẹ (< 3D) Trung bình (3 -
6D)
Nặng ( > 6D) Tổng số
MP 4 (11,4%) 19 (54,3%) 12(34,3%) 35 (100%)
MT 4 (11,4%) 21 (60%) 10 (28,6%) 35 (100%
Viễn thị ở mức độ trung bình chiếm
tỷ lệ cao nhất: MP: 54,3%, MT: 60%.
Tiếp đến là viễn thị ở mức nặng: MP:
34,3%, MT: 28,6%. Viễn thị ở mức nhẹ
chiếm tỷ lệ thấp nhất: MP= MT:
11,4%.
15
* Độ lác trung bình trước và sau chỉnh kính
Bảng 3. Độ lác trung bình trước và sau chỉnh kính
Độ lác trung bình Tối thiểu Tối đa
Trước chỉnh
kính
Độ lác Hirschberg 1,570 ± 4,50
(00- 200)
14,860 ± 4,110
(100- 250)
Độ lăng kính 3,71∆ ± 10,31∆
(0- 50)
31,43∆ ± 10,61∆
(20- 60)
Sau chỉnh
kính
Độ Hirschberg 00 0,860 ± 1,580
(0- 5)
Độ lăng kính 0∆ 2,49∆ ± 3,30∆
(0∆- 10∆)
BÖnh nh©n l¸c QT§T ®Òu
®îc chØnh kÝnh viÔn tèi ®a
theo khóc x¹ kh¸ch quan.
§é l¸c quy tô trung b×nh
tèi thiÓu vµ tèi ®a:
. §o b»ng ph¬ng ph¸p
Hirschberg: 00 0,860 ±
1,580
. §o b»ng l¨ng kÝnh: 0∆ -
2,49∆ ± 3,30∆
* Công suất kính
- Công suất kính đeo trung bình
trước điều trị: MP: 4,9 D ± 2,02D (0 -> +
9D)
MT: 5,33 D ± 2,04D (0,5 -> + 9D)
- Công suất kính đeo ở thời điểm sau
điều trị: MP: 4,36D ± 1,94D (+0D50
-> + 8,25D)
MT: 4,75 D ± 1,81D (0 -> + 8,25D)
Sự thay đổi công suất kính: độ viễn
thị giảm trước và sau điều trị khác nhau
có ý nghĩa thống kê với p = 0,001.
- Số kính đeo trung bình giảm sau điều
trị:
MP: 1,00 D ± 0,40D (+ 0D50 -> +
2D)
MT: 1,07 D ± 0,29D (+ 0D50 -> +
1,75D)
Mức giảm độ viễn thị của kính đeo
trung bình trước và sau điều trị khác
nhau có ý nghĩa thống kê với p =0,001.
Bảng 4. Thay đổi công suất kính viễn thị trước và sau điều trị
C. suất kính
Mắt
Giữ
nguyên
Giảm
Tăng
Tổng
số 0 - 1D > 1- 2D Cộng
Mắt phải 11
(31,4%)
14
(40%)
7
(20%)
21
(60%)
3
(8,6%)
35
Mắt trái 11
(31,4%)
13
(37,1%)
8
(22,9%)
21
(60%)
3
(8,6%)
35
Cộng 22 27 15 42 6 70
- Thay đổi công suất kính viễn trong
lác QTĐT trước và sau điều trị:
. 42 mắt giảm độ viễn thị: 21 MP và
21 MT (60%).
16
. 22 mắt độ viễn thị không thay đổi:
11 MP và 11 MT (31,4%)
. 6 mắt tăng độ viễn thị: MP: 3 mắt,
MT: 3 mắt (8,6%).
- Thay đổi công suất kính viễn giữa 2
mắt tương đương nhau.
* Tật khúc xạ 2M (công suất kính
đeo) và tình trạng nhược thị trước
điều trị
Bảng 5. Tật khúc xạ 2 mắt lệch nhau và tình trạng nhược thị
Tình trạng khúc xạ 2M
Nhược thị
Không lệch khúc
xạ 2M (< 1D)
Lệch khúc xạ
2M
( ≥ 1D)
Tổng số
Không
nhược
thị
MP 10 (62,5%) 7 (36,8%) 17 (48,6%)
MT 8 (50,0%) 6 (31,6%) 14 (40,0%)
MPT 18 (56,3%) 13 (34,2%) 31 (44,3%)
Nhược
thị
Nhẹ
5- 7/10
MP 5 (31,3%) 7 (36,8%) 12 (34,0%)
MT 6 (37,5%) 2 (10,5%) 8 (22,7%)
TB
2- 4/10
MP 1 (6,3%) 4 (21,1%) 5 (14,3%)
MT 2 (12,5%) 10 (52,6%) 12 (34,0%)
Nặng
≤1/10
MP 0 1 (5,4%) 1 (2,9%)
MT 0 1 (5,3%) 1 (2,9%)
Cộng MP 6 (37,5%) 12 (63,1%) 18 (51,4%)
MT 8 (59,0%) 13 (68,4%) 21 (60,0%)
MPT 14 (43,8%) 25 (65,8%) 39
Tổng số
MP 16 (100%) 19 (100%) 35 (100%)
MT 16 (100%) 19 (100%) 35 (100%)
MPT 32 (100%) 38 (100%) 70 (100%)
- Không nhược thị: 31 mắt (17 MP
và 14 MT) chiếm tỷ lệ 44,3% tổng số
mắt
- Nhược thị: 39 mắt (18 MP và 21
MT) chiếm tỷ lệ 45,7% tổng số mắt.
Trong đó nhược thị nhẹ có 20 mắt chiếm
28,6% tổng số mắt, nhược thị trung bình
có 17 mắt chiếm 24,3% và nhược thị
nặng có 2 mắt chiếm 2,86% tổng số mắt.
- Không lệch khúc xạ giữa 2 mắt: 32
mắt (16 MP và 16 MT) chiếm tỷ lệ
45,7% tổng số mắt
- Có lệch khúc xạ giữa 2 mắt: 38 mắt
(19 MP và 19 MT) chiếm tỷ lệ 54,3%
tổng số mắt
* Tình trạng và mức độ nhược thị
trước và sau điều trị
Bảng 6. Tình trạng nhược thị trước và sau điều trị
Thời gian
Thị lực
Trước điều trị Sau điều trị
Không
nhược thị
MP 17 (48,6%) 31 (88,6%)
MT 14 (40,0%) 23 (65,7%)
17
MPT 31 (44,3%) 54 (77,1%)
Nhược thị
Nhẹ (TL: 5- 7/10) MP 12 (34,3%) 3 (8,6%)
MT 8 (22,9%) 8 (22,9%)
Trung bình
(TL: 2- 4/10)
MP 5 (14,3%) 1 (2,9%)
MT 12 (34,3%) 4 (11,4%)
Nặng
(TL: ≤1/10)
MP 1 (2,9%) 0 (0%)
MT 1 (2,9%) 0 (0%)
Cộng
MP 18 (51,4%) 4 (11,4%)
MT 21 (60,0%) 12 (17,1%)
MPT 39 (55,7%) 16 (22,9%)
Tổng số
MP 35 (100%) 35 (100%)
MT 35 (100%) 35 (100%)
MPT 70 (100%) 70 (100%)
P= 0,001
- Trước điều trị có 31 mắt không
nhược thị (17 MP và 14 MT), chiếm tỷ lệ
44,3%, sau điều trị có 54 mắt không
nhược thị (18 MP và 23 MT), chiếm tỷ lệ
77,1%.
- Trước điều trị có 39 mắt nhược thị
(17 MP và 21 MT), chiếm 55,7%, sau
điều trị còn 16 mắt nhược thị (4 MP và
12 MT), chiếm 22,9%. Như vậy tỷ lệ trẻ
bị nhược thị giảm được 32,8% sau khi
điều trị.
* Thị giác hai mắt trước và sau
điều trị
Bảng 7. Thị giác 2M trước và sau điều trị
- Chỉ có 30 bệnh nhi có thể đánh giá
được TGHM. Trước khi điều trị có 28
BN không có TGHM nhưng sau khi điều
trị thì chỉ có 2 BN không có TGHM
(giảm 26 người = 93%).
- Sau điều trị có thể đánh giá được
TGHM trên 35 trẻ. Trong đó có 33 BN
(94,3%) có TG2M, bao gồm có 57,1% có
hợp thị, 28,6% có phù thị.
IV. BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm chung của BN
- Tỷ lệ BN nam và nữ không có sự
khác biệt, kết quả này tương tự như
nghiên cứu của Atulin và Nguyễn Thị
Xuân Hồng nhưng khác với một số
nghiên cứu trong nước về tỷ lệ lác giữa
nam và nữ khám tại bệnh viện (các
nghiên cứu trước đây của Hà Huy Tài,
Lê Ngọc Khanh, Phạm Hải Vân cho
thấy tỷ lệ trẻ em gái (trên dưới 60%)
TG2M
Thời gian
Không
TGHM
Có TGHM
Đồng thị Hợp thị Phù thị
Trước điều trị 28 (86%) 7 (20%) 0 0
Sau điều trị 2 (5,7%) 33 (94,3%) 20 (57,1%) 10 (28,6%)
18
khám và chữa lác ở bệnh viện Mắt TW
cao hơn hẳn nam). Các tác giả cho rằng
trẻ gái được gia đình chú ý và ưu tiên
hơn trẻ nam trong việc đưa đi khám và
chữa lác sớm để chủ yếu giải quyết vấn
đề thẩm mỹ, trong khi họ không biết rằng
tác hại lớn nhất của lác trẻ em là vấn đề
nhược thị và tổn hại TGHM. Trong
nghiên cứu này không có sự chênh lệch
về tỷ lệ nam nữ, phải chăng quan niệm
của nhân dân đã thay đổi, hiểu biết về
bệnh lác đã đúng đắn hơn so với thời
gian trước đây (?).
+ Tuổi trung bình xuất hiện lác
QTĐT từ 2-3 tuổi, tương tự như kết quả
nghiên cứu của Parks (1980),
Costenbader (1996), Diaz (2000),
uretmen (2008).Số liệu này chỉ có tính
tương đối vì kết quả thu thập từ việc hỏi
cha mẹ bệnh nhân. Costenbader thấy lác
QTĐT xuất hiện muộn ở trẻ khoảng 6
tuổi do sự suy giảm chức năng quy tụ-
hợp thị mất bù trừ ở trẻ lớn.
+ Tuổi BN được điều trị tại BV
Mắt TW: 5,3- 8,3 tuổi (63,89 ± 36,35
tháng). Sớm nhất là 3 tuổi và muộn nhất
là 15 tuổi. Như vậy, tuổi bắt đầu được
điều trị là quá muộn so với tuổi xuất hiện
lác, điều này liên quan đến trình độ dân
trí, sự hiểu biết về bệnh và mối quan tâm
của nhân dân. Bên cạnh đó còn phải nói
tới trình độ của bác sỹ nhãn khoa ở các
tỉnh thành trong việc phát hiện bệnh, tư
vấn và chuyển tuyến. Công tác tuyên
truyền giáo dục sức khỏe trong nhân dân.
+ Yếu tố nguy cơ gây lác QTĐT
(42,9%) được khai thác qua gia đình BN,
bao gồm các yếu tố: Gia đình có người
lác, BN có tật khúc xạ viễn thị từ trung
bình tới cao, tình trạng lệch khúc xạ giữa
2 mắt, nhược thị Trong đó yếu tố di
truyền, gia đình chiếm tỷ lệ khá cao.
Theo Eillen (2001) có 23% trẻ bị lác
QTĐT có quan hệ họ hàng bậc 1 với
người bị lác và 91% BN có ít nhất 1
người trong họ hàng gần bị lác QTĐT.
Những trẻ có yếu tố nguy cơ lác QTĐT
phải được khám và phát hiện sớm, và
theo dõi định kỳ. Cần cho trẻ đeo kính
phù hợp (chỉnh kính viễn thị tối đa theo
khúc xạ khách quan) sẽ phòng đượ lác và
không ảnh hưởng đến chức năng thị giác
hai mắt.
4.2. Đặc điểm lâm sàng
- Về viễn thị: Hầu hết BN có viễn thị
thường từ mức độ trung bình đến nặng
(trên +3D), và thường bị cả hai mắt, có sự
khác biệt giữa hai mắt nhưng không có ý
nghĩa thống kê (p<0,05). Kết quả này là
rất kinh điển, tương tự như các nghiên
cứu về hình thái lác trong nói chung và
phù hợp với các nghiên cứu của các tác
giả trước đây về lác QTĐT. Tuy nhiên,
theo Adler FH, ngay cả viễn thị nhẹ cũng
có thể gây ra lác do rối loạn QTĐT.
Haynes cho rằng điều tiết ở trẻ em có thể
đạt được mức bằng người lớn khi trẻ 4
tháng tuổi. Tuy nhiên nhiều tác giả khác
cho rằng ở thời điểm 3-4 tháng tuổi trẻ
mới bắt đầu phát triển TGHM và các
phản xạ QTĐT, phản xạ điều tiết còn
phát triển muộn hơn. Trong 35 BN lác
QTĐT của chúng tôi được theo dõi ít
nhất 2 năm, 60% trường hợp có giảm độ
viễn thị, 31,4% độ viễn thị không thay
đổi và 8,6% tăng độ viễn. Kết quả này
tương tự như của Atulin (2004) theo dõi
ít nhất 3 năm có 59,5% BN giảm viễn
thị, 26,3% giữ nguyên và 17,8% tăng, tác
giả thấy rằng độ viễn thị giảm dần hàng
19
năm. Nghiên cứu của chúng tôi: Độ viễn
giảm trung bình sau 2 năm theo dõi là
1,00 ± 0,40D (+0D50 -> +2D) với MP;
1,07 ± 0,29 D (+0D50 -> +1,75D) với MT.
Sự giảm độ viễn này có ý nghĩa thống kê
với p = 0,001. Nó cho thấy có xu hướng
“chính thị hoá” ở lác quy tụ điều tiết do
viễn thị, phù hợp với nhận xét của
Lambert, Lowery, Hutcheson, Irene,
Demiz..
- Tình trạng nhược thị gặp ở đa số
BN bị lác QTĐT (MP: 51,43% và MT:
60%) ở lần khám đầu tiên tại BV Mắt
TW. Tuy nhiên ở BN của chúng tôi, tình
trạng nhược thị nhẹ chiếm tỷ lệ cao nhất
so với hai loại còn lại là loại trung bình
và nặng (cộng chung cả MP và MT).
Điều này cũng có thể được lý giải tương
tự như tình trạng TGHM, nghĩa là trẻ
thường bị lác QTĐT từ sau 2 tuổi mà
không phải là lác trong bẩm sinh (là loại
thường gây ra nhược thị nặng nhất). Tật
khúc xạ 2 mắt lệch nhau là yếu tố ảnh
hưởng quan trọng đến nhược thị. Kết quả
của nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ nhược
thị giảm dần theo thời gian: MP từ
51,43% xuống 11,4% và MT từ 60%
xuống 34,3% sau khi BN đeo kính và
tính ở thời điểm cuối của nghiên cứu.
Cùng với việc đeo kính thường xuyên thì
BN còn phải tập nhược thị chủ yếu bằng
phương pháp bịt mắt tốt, tập luyện mắt
kém (phản xạ mắt - tay). Trẻ được đeo
kính viễn và tập nhược thị ở lứa tuổi
càng nhỏ càng tốt, thị lực nhanh phục hồi
và dễ tăng cao. Điều chú ý là gia đình và
BN phải tuyệt đối tuân thủ y lệnh và
hướng dẫn của thày thuốc.
- Về thị giác hai mắt: Trước khi điều
trị có tới 86% BN không có TGHM,
nhưng sau khi điều trị thì tỷ lệ này
xuống còn 5,7%. Như vậy hầu hết BN
lác QTĐT đều có khả năng phục hồi
TGHM sau khi được điều trị. Hình thái
lác này được tiên lượng khá tốt về sự
phục hồi TGHM vì nó thường xuất hiện
sau 2 tuổi, nghĩa là ở độ tuổi đó trẻ đã
hình thành và phát triển chức năng
TGHM (không phải như lác trong bẩm
sinh). Trong nghiên cứu của chúng tôi
có 94,3% BN có TGHM trong lần khám
cuối cùng của thời gian theo dõi, đó là
một tỷ lệ rất cao. Trong đó 28,6% có
TGHM ở mức cao nhất là phù thị (nhìn
hình nổi) và 57,1% BN có hợp thị.
Nghiên cứu của Atulin: 73,5% BN có
hợp thị, 24,2% có phù thị, còn theo
ChoYA. (2008) thì phù thị là 96,4%.
Theo nghiên cứu của Phạm Văn
Tần thì 20% BN có phù thị, thấp hơn kết
quả của chúng tôi. Đặc biệt, nghiên cứu
của Mulvihill cho thấy tất cả BN bị lác
do điều tiết đều có TGHM. Nhìn chung,
theo rất nhiều y văn và báo cáo thì tỷ lệ
về TGHM được đưa ra rất khác nhau, sự
bất đồng này có thể do nhiều nguyên
nhân ảnh hưởng đến như: lứa tuổi của
BN được khám và điều trị, phương pháp
và kết quả điều trị, tét thử TGHM, kỹ
năng và sự kiên nhẫn của người thử, kỹ
thuật và kết quả phẫu thuật lác (trong
trường hợp có chỉ định mổ) Do vậy
cần có thêm một số nghiên cứu sâu hơn,
nghiêm túc và khoa học để đánh giá kỹ
hơn về yếu tố ảnh hưởng tới khả năng
phục hồi TGHM và đưa ra tỷ lệ đáng tin
cậy, có sức thuyết phục.
VI. KẾT LUẬN
5.1. Một số đặc điểm lâm sàng của lác
QTĐT
20
- Thường xuất hiện ở trẻ em 2-3 tuổi.
Không có sự khác biệt về giới tính.
- Tuổi BN đến khám và điều trị khá
muộn, bắt đầu từ 5- 6 tuổi.
- Một số yếu tố nguy cơ gây lác
QTĐT (42%) như yếu tố gia đình, di
truyền, viễn thị cao, lệch khúc xạ hai
mắt.
- Hầu hết BN bị viễn thị từ mức độ
trung bình tới nặng. (gần 90%). Số kính
trung bình của BN đeo ở mức + 5 Đi-ốp.
- Đa số BN có nhược thị ở mức độ
nhẹ và trung bình.
- Những BN có lệch khúc xạ giữa 2
mắt (>1D) phần lớn đều gây ra nhược thị
một mắt ở mắt có độ viễn thị nặng hơn.
- Tỷ lệ BN có TGHM trước điều trị
là rất thấp (86% BN không có TGHM)
5.2. Kết quả điều trị
- Tất cả BN bị lác QTĐT được đeo số
kính phù hợp đều hết lác hoặc độ lác còn
dưới 50.
- Độ viễn thị có xu hướng giảm dần
(60%) theo thời gian khi trẻ lớn dần.
- Tình trạng nhược thị được cải thiện
đáng kể theo thời gian sau khi được đeo
kính và tập luyện (MP: Nhược thị từ
51,4% xuống 11,4%. MT: 60% ->
34,3%)
- Hầu hết bệnh nhân lác QTĐT
(94,3%) có phục hồi TG2M trong đó
28,6% có phù thị và 57,1% có hợp thị.
V. KHUYẾN CÁO
- Chẩn đoán và điều trị lác quy tụ
điều tiết không khó nhưng cần phải tuân
thủ chặt chẽ quy trình khám lác cơ năng
ở trẻ em.
- Với hình thái lác QTĐT, cần cho
trẻ đeo kính viễn thị thường xuyên và
thường ở mức công suất tối đa, trước đó
cần xác định khúc xạ bằng phương pháp
rỏ thuốc liệt điều tiết hoàn toàn như
Atropin.
- Những trẻ có các yếu tố nguy cơ
(nhất là gia đình có người bị lác và viễn
thị nặng) cần được khám và điều trị sớm
ở những bác sỹ chuyên khoa.
- Trẻ em bị lác mắt cần được khám
và điều trị tại các cơ sở nhãn khoa càng
sớm càng tốt. Muốn vậy phải liên tục
tuyên truyền bằng mọi biện pháp. Nâng
cao hiểu biết và kiến thức của nhân dân
về bệnh lác.
- Trong quá trình điều trị, cần có sự
phối hợp chặt chẽ giữa thầy thuốc và gia
đình
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. NGUYỄN THỊ XUÂN HỒNG (2007), Yếu tố khúc xạ trong lác cơ năng trẻ em:
Hình thái lâm sàng và điều trị, Luận án tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội.
2. PHẠM VĂN TẦN (1998), Điều trị phục hồi thị giác hai mắt trong phức hợp điều
trị lác cơ năng, Luận án tiến sỹ y học, trường ĐH Y Hà Nội.
3. HÀ HUY TIẾN (1991), Điều trị lác cơ năng, Tập hợp công trình NCKH, trường
ĐH Y Hà Nội.
4. A. TULIN BERK, NILUFER KOCAR, AND HYLYA ELLIDOKUZ, (2004),
Treatment outcomes in refractive accommodative esotropia, JAAPOS, 384- 388.
21
5. DENIZ SOMER, FATMA GUL CINAR, AND SUNAY DUMAN (2006), The
accommodative element in accomodative esotropia, Am J ophthalmol, 819- 826.
6. EILLEEN E. BIRCH, SHERRY L. FAWCETT AND DIANANA HUYHBANK
WHEATOU (2005), The association for research in vision and ophthalmology,
526- 529.
7. IRENE. LUDWIG, SUSAN P.IMBERMAN AND MARSHALL M.PARKS
(2003), Long Term Study of Accommodative Esotropia,Trans Am Ophathalmol
Soc, 155- 162.
8. LOWERY RS, HUTCHINSON A, LAMBERT SR (2006),
EMMETROPIZATION IN ACCOMMODATIVE E.MULVIHILL A,
MACCANN A, FLITCROFT I, O′KEEFE M (2000), Outcome in refractive
accommodative esotropia, Br J Ophthalmol, 746- 749.
SUMMARY
EVALUATE THE EFFICACY OF ACCOMMODATIVE
ESOTROPIA TREATMENT
Purpose: Describe some clinical figures of accommodative esotropia and evaluate
the results of treatment. Objectives and Methods: Prospective study on the 35 patients
aged from 3 to 15 year old, who had accommodative esotropia and were treated in
Vietnam National Institute of Ophthalmology from 01/2006 to 08/2008. The mean
follow-up duration was 24 months. Patients had strabismus angle less than10PD after
best corrected glasses wearing and normal AC/A ratio. Results: Amblyopic status was
improved remarkably from 51.4% to 11.4% (For right eye) and from 60% to 34.3%
(Left eye). Some risk factors of accommodative esotropia were defined such as
hereditary, high hyperopia, anisometropia. Hyperopia has a tendency to reduce after
treatment (60% of cases). Binocular vision sharply develops after glasses wearing and
amblyopia training (94.3% of patients had binocular vision. Among them 51.1% had
fusion, 28,6% obtained stereopsis). Conclusions: accommodative esotropia often
appears in children aged of 2-3 year old. Patients often go to be examined and treated
quite late (5-6 year old). Most of accommodative esotropia patients accompanied with
moderate or severe hyperopia (90%). A very high percentage of patients were recovered
binocular vision after treatment (94.3%). Wearing hyperopic glasses and training
amblyopia propriately and early result in good results.
Keyword: Accommodative esotropia, amblyopia, binocular vision.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
- de_tai_danh_gia_hieu_qua_dieu_tri_lac_quy_tu_dieu_tiet_trinh.pdf